>>>
Bạn đang ở:
Trang chủ > Tổng hợp các bài viết tháng mười 2009
Phần Lớn CFA Institute Members Ủng Hộ Giám Sát Rủi Ro
Trong cuộc khảo sát bởi CFA Institute Centre về Financial Market Integrity (tức là tính thanh liêm của thị trường tài chính) cho thị trường tài chính Mỹ, những người trả lời (là các CFA Insitute members) ở Mỹ là những người không hài lòng nhất về hệ thống quản lý điều tiết kinh tế của Mỹ.
Về cuộc điều tra này, những người được hỏi sẽ bày tỏ ý kiến về tính thanh liêm hay chuẩn mực đạo đức của các thành phần tham gia thị trường tài chính.
Các điểm số đánh giá của Mỹ năm nay điều giảm so với năm 2008 gần như trong mọi khoản mục. Chỉ số FMI giảm nhẹ từ 2.9 xuống 2.8.

(Source: CFA Institute Centre)
Nhiều người trả lời nhận xét thêm về tình trạng điều tiết kinh tế ở Mỹ, phần lớn đều cho rằng hệ thống hiện tại là chưa đủ vì thiếu nguồn lực hoặc sự thiếu hiệu quả trong việc thực thi.
Theo một bài viết trên Pensions & Investments thì khoảng 3/4 CFA members trả lời nghĩ rằng một cơ quan giám sát rủi ro hệ thống nên chỉ có quyền lực giới hạn cho đến khi những nguyên do thị trường đổ vỡ được hiều cặn kẽ, trong khi 26% tin rằng cơ quan này phải có quyền hành ngay lập lức. Ngoài ra, 57% ủng hộ đề xuất một ban giám sát rủi ro hệ thống, 26% ủng hộ Federal Reserve Board giữ nguyên vai trò, 7% ủng hộ một “college of regulators” và 10% ủng hộ một vài cơ chế giám sát khác.
Nói về các nhà quản lý quỹ hedge fund, thì trong 2009, họ vẫn bị cảm nhận là tồi tệ, và điều này đỏi hỏi tính minh bạch của các hedge fund.
Nhận xét về cách cư xử của CEO, CFO và mối quan hệ giữa tiền thù lao và performance thì nhiều nhận xét nhấn mạnh tới việc thiếu một sự động lực lâu dài (long-term incentive). Nhưng khi nói về gian lận thì ít nói trực tiếp về vụ Bernard Maddoff.
Trong 2009, những người ngoài nước Mỹ đã đánh mất nhiều sự tin tưởng vào kinh tế Mỹ. Trong 2008, họ đánh giá hệ thống quản lý và bảo vệ nhà đầu tư cao hơn những người ở Mỹ.
Xem các kết quả survey về Financial Market Integrity ở Mỹ và Canada, Hong Kong, Japan, Switzerland, United Kingdom trên trang web của CFA Institute: Financial Market Integrity Index
Về cuộc điều tra này, những người được hỏi sẽ bày tỏ ý kiến về tính thanh liêm hay chuẩn mực đạo đức của các thành phần tham gia thị trường tài chính.
Các điểm số đánh giá của Mỹ năm nay điều giảm so với năm 2008 gần như trong mọi khoản mục. Chỉ số FMI giảm nhẹ từ 2.9 xuống 2.8.

(Source: CFA Institute Centre)
Nhiều người trả lời nhận xét thêm về tình trạng điều tiết kinh tế ở Mỹ, phần lớn đều cho rằng hệ thống hiện tại là chưa đủ vì thiếu nguồn lực hoặc sự thiếu hiệu quả trong việc thực thi.
Theo một bài viết trên Pensions & Investments thì khoảng 3/4 CFA members trả lời nghĩ rằng một cơ quan giám sát rủi ro hệ thống nên chỉ có quyền lực giới hạn cho đến khi những nguyên do thị trường đổ vỡ được hiều cặn kẽ, trong khi 26% tin rằng cơ quan này phải có quyền hành ngay lập lức. Ngoài ra, 57% ủng hộ đề xuất một ban giám sát rủi ro hệ thống, 26% ủng hộ Federal Reserve Board giữ nguyên vai trò, 7% ủng hộ một “college of regulators” và 10% ủng hộ một vài cơ chế giám sát khác.
Nói về các nhà quản lý quỹ hedge fund, thì trong 2009, họ vẫn bị cảm nhận là tồi tệ, và điều này đỏi hỏi tính minh bạch của các hedge fund.
Nhận xét về cách cư xử của CEO, CFO và mối quan hệ giữa tiền thù lao và performance thì nhiều nhận xét nhấn mạnh tới việc thiếu một sự động lực lâu dài (long-term incentive). Nhưng khi nói về gian lận thì ít nói trực tiếp về vụ Bernard Maddoff.
Trong 2009, những người ngoài nước Mỹ đã đánh mất nhiều sự tin tưởng vào kinh tế Mỹ. Trong 2008, họ đánh giá hệ thống quản lý và bảo vệ nhà đầu tư cao hơn những người ở Mỹ.
Xem các kết quả survey về Financial Market Integrity ở Mỹ và Canada, Hong Kong, Japan, Switzerland, United Kingdom trên trang web của CFA Institute: Financial Market Integrity Index
Halloween Effect - Hiệu Ứng Halloween
Halloween effect hay halloween indicator (hiệu ứng halloween) là một biến thể của một thành ngữ Mỹ "Sell in May and go away." . Tức là ở đây người ta sẽ bán hết cổ phiếu nắm giữ vào tháng năm, rồi bỏ đi (du lịch). Hiếu ứng Halloween không có nghĩa là thị trường sẽ biến động trong ngày này mà chỉ đơn giản là người ta lấy mốc này để biết đã hết tháng 10. Ở đây người ta tin rằng khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 4 (mùa đông) thị trường đem lại tăng trưởng, trong khi từ tháng 5 đến tháng 10 (mùa hè) thì thị trường ảm đạm.
Chiến thuật này đơn giản là bán hết tất cả cổ phiếu, rồi mua trái phiếu hoặc để trong tài khoản deposit account, rồi mua cổ phiểu lại vào mùa thu, loanh quanh lễ Halloween.
Những dữ liệu thống kê như của Sven Bouman and Ben Jacobsen thì ủng hộ calendar effect này, và cho thấy rằng halloween indicator ảnh hưởng mạnh ở châu Âu hơn các khu vực khác.

Ở Việt Nam thì sao?
Như tôi cũng từng nói dữ liệu lịch sử cổ phiếu ở Việt Nam quá ngắn nên việc nghiên cứu không mang tính thuyết phục lắm. Nhưng nếu lấy mốc 11/2007, thì trước đó có thấy được dấu hiệu của halloween effect. Nhưng nếu coi về sau thì hoàn toàn ngược lại. Ta xem chỉ số VN-Index:

Ngày 01/11/2007: 1057.92
Ngày 28/04/2008: 519.12
Mùa đông rớt thẳng xuống
Ngày 05/05/2008: 521.28
Ngày 31/10/2008: 30347.05
Cũng rớt nhưng thấp hơn, hơn nữa có khoảng lên điểm cuối tháng 8 lên 561.85
Khoảng mùa đông, mùa hè gần đây nhất cũng vậy. Nửa năm đầu cũng đi hình chữ V và cũng đã xuống điểm đáy của VN-Index cuối tháng, trong khi mùa hè thì xu thế đi lên (kể từ đáy tháng 2 đó).
Như vậy, halloween indicator có thể không phải là yếu tố ảnh hưởng thị trường Việt Nam. Với cách lý giải mùa hè người dân nghỉ mát đến Noel thì coi kỹ chi tiêu hơn có lẽ không hợp với Việt Nam vì người Việt Nam làm việc....quần quật quanh năm.
Nhưng cũng có thể khủng hoảng tài chính làm bóp méo tính chu kỳ, mùa vụ này chăng?
Chiến thuật này đơn giản là bán hết tất cả cổ phiếu, rồi mua trái phiếu hoặc để trong tài khoản deposit account, rồi mua cổ phiểu lại vào mùa thu, loanh quanh lễ Halloween.
Những dữ liệu thống kê như của Sven Bouman and Ben Jacobsen thì ủng hộ calendar effect này, và cho thấy rằng halloween indicator ảnh hưởng mạnh ở châu Âu hơn các khu vực khác.
Ở Việt Nam thì sao?
Như tôi cũng từng nói dữ liệu lịch sử cổ phiếu ở Việt Nam quá ngắn nên việc nghiên cứu không mang tính thuyết phục lắm. Nhưng nếu lấy mốc 11/2007, thì trước đó có thấy được dấu hiệu của halloween effect. Nhưng nếu coi về sau thì hoàn toàn ngược lại. Ta xem chỉ số VN-Index:
Ngày 01/11/2007: 1057.92
Ngày 28/04/2008: 519.12
Mùa đông rớt thẳng xuống
Ngày 05/05/2008: 521.28
Ngày 31/10/2008: 30347.05
Cũng rớt nhưng thấp hơn, hơn nữa có khoảng lên điểm cuối tháng 8 lên 561.85
Khoảng mùa đông, mùa hè gần đây nhất cũng vậy. Nửa năm đầu cũng đi hình chữ V và cũng đã xuống điểm đáy của VN-Index cuối tháng, trong khi mùa hè thì xu thế đi lên (kể từ đáy tháng 2 đó).
Như vậy, halloween indicator có thể không phải là yếu tố ảnh hưởng thị trường Việt Nam. Với cách lý giải mùa hè người dân nghỉ mát đến Noel thì coi kỹ chi tiêu hơn có lẽ không hợp với Việt Nam vì người Việt Nam làm việc....quần quật quanh năm.
Nhưng cũng có thể khủng hoảng tài chính làm bóp méo tính chu kỳ, mùa vụ này chăng?
Từ Điển Tài Chính Kinh Tế Ngân Hàng
Tổng hợp những trang từ điển tài chính (financial dictionary), từ điển kinh doanh, từ điển kinh tế, từ điển ngân hàng, từ điển kế toán, e-book về thuật ngữ tài chính (financial terms)...

Từ điển tài chính, đầu tư, kinh tế online
1. Investopedia
http://investopedia.com
Từ điển lớn nhất đầy đủ toàn diện về các thuật ngữ tài chính do Forbes tài trợ.
2.Investorwords
http://investorwords.com
Từ điển đầu tư, tài chính.
3. The New York Times
http://www.nytimes.com/library/financial/glossary/bfglosa.htm
Mục từ về tài chính và kinh doanh (trên 2500 mục từ)
4. Kiplinger
http://www.kiplinger.com/basics/glossary/
Mục từ về tài chính cá nhân của Kiplinger
5. Thefreedictionary.com
http://financial-dictionary.thefreedictionary.com
Từ điển chuyên ngành tài chính của TFD.com
6. Businessdictionary
http://businessdictionary.com
Từ điển về kinh doanh, kinh tế.
7. Answers
http://www.answers.com/library/Finance+and+Investment+Dictionary-cid-73385 Từ điển tài chính và đầu tư của Answers.com
8. Bizterms
http://bizterms.net
Từ điển thuật ngữ kinh doanh
9. Biz.yahoo.com
http://biz.yahoo.com/f/g/
Yahoo! Financial Glossary
10. Allbusiness.com
http://www.allbusiness.com/3470944-1.html
Tập hợp nhiều từ điển về kinh doanh gồm từ điển kế toán, từ điển ngân hàng, từ điển kinh doanh, từ điển tài chính đầu tư, từ điển bảo hiểm, từ điển marketing và từ điển bất động sản.
11. Enotes.com
http://www.enotes.com/small-business-encyclopedia
Từ điển kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ. Giải thích khá chi tiết với nguồn trích dẫn.
12. Economist
http://www.economist.com/research/economics/
Từ điển kinh tế học của tạp chí The Economist
13. Economics.about.com
http://economics.about.com/.../Glossary_of_Economics_Terms_Economics_Dictionary.htm
Từ điển kinh tế học của About.com
14. Saga.vn
http://saga.vn/dictlist.aspx
Từ điển kinh doanh, tài chính bằng tiếng Việt.
15. Stockbiz.vn
http://stockbiz.vn/Investopedia.aspx
Investopedia từ điển tài chính tiếng Việt của Stockbiz.
16. Vietstock.com.vn
http://www.vietstock.com.vn/pedia/home/index.aspx
Thuật ngữ kinh tế của VietstockPedia (tiếng Việt).
17. Involio.com
http://67.222.57.58/lookup/glossary
Từ điển tài chính của Involio.com (giao diện tiếng Việt nhưng mục từ là tiếng Anh)
18. Fullbright
http://www.fetp.edu.vn/eDictionary/index.cfm
Từ điển kinh tế của chương trình Fullbright (Anh - Việt)
19. IPSARD.gov.vn
http://ipsard.gov.vn/news/dict.asp
Từ điển kinh tế của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn - IPSARD (Anh - Việt)
Download software, e-book thuật ngữ, từ điển tài chính
Banking and Finance Terms
E-book thuật ngữ tài chính, ngân hàng, 2.2MB
Tiếng Anh chuyên ngành tài chính, ngân hàng
Tiếng Anh + tiếng Việt, 147kb
Blackwell Encyclopedic Dictionary of Finance
Sách từ điển tài chính của Dean Paxson và Douglas Wood. 1.8MB
McGraw-Hill- Dictionary of Financial and Business Terms
Tác giả Roberto de Paula Lico Júnior, 1.3MB.
Encyclopedia Dictionary of International Finance and Banking
Từ điển tài chính quốc tế và ngân hàng của Jae K. Shim và Michael Constas, 4.3MB
Từ điển kế toán
Ventureline.com, Tiếng Anh, file .DOC, 669kb
Từ điển kinh tế
(Anh-Việt), file Excel, khoảng trên 3000 mục từ. 1.3MB
Từ Điển Kinh Tế-Thuật Ngữ
http://www.mediafire.com/?j8rzfysjrwj
Password: ktdoingoai
(Anh Việt) 20.43 MB, phải cài đặt.
Từ điển ngân hàng
(thuật ngữ ngân hàng Anh- Việt), 298.5kb.
Investopedia toolbar
Toolbar plug-in cho trình duyệt web Internet Explorer, Firefox, và Opera.
Download tất cả các file: tudien-taichinh-kinhte-nganhang (28.72 MB)
Password chống spam: teddydoors

Từ điển tài chính, đầu tư, kinh tế online
1. Investopedia
http://investopedia.com
Từ điển lớn nhất đầy đủ toàn diện về các thuật ngữ tài chính do Forbes tài trợ.
2.Investorwords
http://investorwords.com
Từ điển đầu tư, tài chính.
3. The New York Times
http://www.nytimes.com/library/financial/glossary/bfglosa.htm
Mục từ về tài chính và kinh doanh (trên 2500 mục từ)
4. Kiplinger
http://www.kiplinger.com/basics/glossary/
Mục từ về tài chính cá nhân của Kiplinger
5. Thefreedictionary.com
http://financial-dictionary.thefreedictionary.com
Từ điển chuyên ngành tài chính của TFD.com
6. Businessdictionary
http://businessdictionary.com
Từ điển về kinh doanh, kinh tế.
7. Answers
http://www.answers.com/library/Finance+and+Investment+Dictionary-cid-73385 Từ điển tài chính và đầu tư của Answers.com
8. Bizterms
http://bizterms.net
Từ điển thuật ngữ kinh doanh
9. Biz.yahoo.com
http://biz.yahoo.com/f/g/
Yahoo! Financial Glossary
10. Allbusiness.com
http://www.allbusiness.com/3470944-1.html
Tập hợp nhiều từ điển về kinh doanh gồm từ điển kế toán, từ điển ngân hàng, từ điển kinh doanh, từ điển tài chính đầu tư, từ điển bảo hiểm, từ điển marketing và từ điển bất động sản.
11. Enotes.com
http://www.enotes.com/small-business-encyclopedia
Từ điển kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ. Giải thích khá chi tiết với nguồn trích dẫn.
12. Economist
http://www.economist.com/research/economics/
Từ điển kinh tế học của tạp chí The Economist
13. Economics.about.com
http://economics.about.com/.../Glossary_of_Economics_Terms_Economics_Dictionary.htm
Từ điển kinh tế học của About.com
14. Saga.vn
http://saga.vn/dictlist.aspx
Từ điển kinh doanh, tài chính bằng tiếng Việt.
15. Stockbiz.vn
http://stockbiz.vn/Investopedia.aspx
Investopedia từ điển tài chính tiếng Việt của Stockbiz.
16. Vietstock.com.vn
http://www.vietstock.com.vn/pedia/home/index.aspx
Thuật ngữ kinh tế của VietstockPedia (tiếng Việt).
17. Involio.com
http://67.222.57.58/lookup/glossary
Từ điển tài chính của Involio.com (giao diện tiếng Việt nhưng mục từ là tiếng Anh)
18. Fullbright
http://www.fetp.edu.vn/eDictionary/index.cfm
Từ điển kinh tế của chương trình Fullbright (Anh - Việt)
19. IPSARD.gov.vn
http://ipsard.gov.vn/news/dict.asp
Từ điển kinh tế của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn - IPSARD (Anh - Việt)
Download software, e-book thuật ngữ, từ điển tài chính
Banking and Finance Terms
E-book thuật ngữ tài chính, ngân hàng, 2.2MB
Tiếng Anh chuyên ngành tài chính, ngân hàng
Tiếng Anh + tiếng Việt, 147kb
Blackwell Encyclopedic Dictionary of Finance
Sách từ điển tài chính của Dean Paxson và Douglas Wood. 1.8MB
McGraw-Hill- Dictionary of Financial and Business Terms
Tác giả Roberto de Paula Lico Júnior, 1.3MB.
Encyclopedia Dictionary of International Finance and Banking
Từ điển tài chính quốc tế và ngân hàng của Jae K. Shim và Michael Constas, 4.3MB
Từ điển kế toán
Ventureline.com, Tiếng Anh, file .DOC, 669kb
Từ điển kinh tế
(Anh-Việt), file Excel, khoảng trên 3000 mục từ. 1.3MB
Từ Điển Kinh Tế-Thuật Ngữ
http://www.mediafire.com/?j8rzfysjrwj
Password: ktdoingoai
(Anh Việt) 20.43 MB, phải cài đặt.
Từ điển ngân hàng
(thuật ngữ ngân hàng Anh- Việt), 298.5kb.
Investopedia toolbar
Toolbar plug-in cho trình duyệt web Internet Explorer, Firefox, và Opera.
Download tất cả các file: tudien-taichinh-kinhte-nganhang (28.72 MB)
Password chống spam: teddydoors
Phân Tích Môi Trường Kinh Doanh Việt Nam 2010
Trong báo cáo Doing Business 2010 của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) thì Việt Nam xếp thứ 93, tụt 2 bậc so với năm trước.
Trong báo cáo này thì top 10 nền kinh tế có môi trường kinh doanh tốt là Singapore, New Zealand, Hong Kong, United States, United Kingdom, Denmark, Ireland, Canada, Australia, và Norway.
Việt Nam nằm chung nhóm với một số nước như Grenada, ghana, Moldova, Kenya. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều giảm thứ hạng. Trung Quốc vẫn trên hạng Việt Nam 5 bậc. So sánh Việt Nam với một số nước trong khu vực ASEAN:
Singapore: 1
Thailand: 12
Malaysia: 23
Vietnam: 93
Indonesia: 122
Philippines: 144
Laos: 167
Mười tiêu chí được World Bank đưa ra đánh giá gồm: thành lập một doanh nghiệp; giải quyết vấn đề giấy phép xây dựng; tuyển dụng và sa thải lao động; đăng ký tài sản; vay vốn tín dụng; bảo vệ nhà đầu tư; nộp thuế; thương mại quốc tế; thực thi hợp đồng và giải thể doanh nghiệp.
Trong báo cáo phân tích môi trường kinh doanh năm nay, Việt Nam đã cải thiện được 2 lĩnh vực. Đó là, cắt giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống còn 25% và loại bỏ thuế thu nhập bổ sung đối với hoạt động chuyển nhượng đất đai. Việt Nam cũng đã áp dụng thủ tục hải quan mới, đẩy nhanh giao dịch thương mại quốc tế, là một phần trong kế hoạch cải thiện sau khi gia nhập WTO.
Tuy nhiên, điều này không giúp Việt Nam cải thiện thứ hạng khi hầu hết các tiêu chí khác đều xấu đi như thành lập doanh nghiệp chẳng hạn.

Các tiêu chí Việt Nam sụt giảm gồm:
- thành lập một doanh nghiệp: 109 xuống 116
- giải quyết vấn đề giấy phép xây dựng: 67 xuống 69
- tuyển dụng: 100 xuống 103
- đăng ký tài sản: 37 xuống 40
- tín dụng: 27 xuống 30
- bảo vệ nhà đầu tư: 171 xuống 172
- nộp thuế: 140 xuống 147
- ngoại thương: 73 xuống 74
- giải thể: 126 xuống 127
Tiêu chí duy nhất thăng hạng là:
- thực thi hợp đồng: 39 lên 32
Xem tài liệu phân tích môi trường kinh doanh Việt Nam tại đây Doing Business Vietnam 2010
Bản lưu trữ: Doing Business Vietnam 2010
Trong báo cáo này thì top 10 nền kinh tế có môi trường kinh doanh tốt là Singapore, New Zealand, Hong Kong, United States, United Kingdom, Denmark, Ireland, Canada, Australia, và Norway.
Việt Nam nằm chung nhóm với một số nước như Grenada, ghana, Moldova, Kenya. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều giảm thứ hạng. Trung Quốc vẫn trên hạng Việt Nam 5 bậc. So sánh Việt Nam với một số nước trong khu vực ASEAN:
Singapore: 1
Thailand: 12
Malaysia: 23
Vietnam: 93
Indonesia: 122
Philippines: 144
Laos: 167
Mười tiêu chí được World Bank đưa ra đánh giá gồm: thành lập một doanh nghiệp; giải quyết vấn đề giấy phép xây dựng; tuyển dụng và sa thải lao động; đăng ký tài sản; vay vốn tín dụng; bảo vệ nhà đầu tư; nộp thuế; thương mại quốc tế; thực thi hợp đồng và giải thể doanh nghiệp.
Trong báo cáo phân tích môi trường kinh doanh năm nay, Việt Nam đã cải thiện được 2 lĩnh vực. Đó là, cắt giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống còn 25% và loại bỏ thuế thu nhập bổ sung đối với hoạt động chuyển nhượng đất đai. Việt Nam cũng đã áp dụng thủ tục hải quan mới, đẩy nhanh giao dịch thương mại quốc tế, là một phần trong kế hoạch cải thiện sau khi gia nhập WTO.
Tuy nhiên, điều này không giúp Việt Nam cải thiện thứ hạng khi hầu hết các tiêu chí khác đều xấu đi như thành lập doanh nghiệp chẳng hạn.

Các tiêu chí Việt Nam sụt giảm gồm:
- thành lập một doanh nghiệp: 109 xuống 116
- giải quyết vấn đề giấy phép xây dựng: 67 xuống 69
- tuyển dụng: 100 xuống 103
- đăng ký tài sản: 37 xuống 40
- tín dụng: 27 xuống 30
- bảo vệ nhà đầu tư: 171 xuống 172
- nộp thuế: 140 xuống 147
- ngoại thương: 73 xuống 74
- giải thể: 126 xuống 127
Tiêu chí duy nhất thăng hạng là:
- thực thi hợp đồng: 39 lên 32
Xem tài liệu phân tích môi trường kinh doanh Việt Nam tại đây Doing Business Vietnam 2010
Bản lưu trữ: Doing Business Vietnam 2010
Coca-Cola vs. Pepsi
Tôi không thích Pepsi. Tôi chưa bao giờ coi nó là thứ nước uống có thể thay thế Coca-Cola. Khi tôi hỏi mua Coke thì những người ở Việt Nam thậm có khi đưa cho tôi một chai Pepsi. Liệu họ có nhận biết được sự khác biệt không? Tôi đoán là không, nhưng tôi cũng nghĩ rằng nhiều người cũng không nhận ra điều này.

Tôi có bị lạc lõng không? Rất may không. Ở trong khu vực tôi sống, có một ông nước ngoài chỉ mua Coca-cola. Vì thế, tôi và ông này là khách hàng quen thuộc của một cửa hàng nhỏ. Một lần tôi đi mua Coca, chi chủ quán nói hết rồi vì ông Tây đó mua cả thùng. Ác ghê nhỉ?
Tôi có tham gia mạng xã hội Facebook và phát hiện fan hâm mộ Coca-Cola nhiều hơn hẳn.
Trong danh sách sách top 100 thương hiệu hàng đầu năm 2009 này thì Coca-cola cũng đứng vị trí số 1, trong khi Pepsi chỉ đứng thứ 22. (Cái hình ảnh người đạp xích lô chở thùng Coca-cola là ở Việt Nam đó!)
Tôi tình cờ phát hiện ra một điều lý thú là nhiều người có liên quan đến tài chính thì đều thích Coca-Cola hơn Pepsi.
Một ví dụ mọi người dễ thấy nhất Warren Buffett thích uống Coca-Cola, cũng giàu lên từ đầu tư vào Coca-Cola.
À, bạn xem Bill Gates quảng cáo Coca-Cola chưa nhỉ? Nghe đâu cũng là một tay nghiện nặng.

Tôi có bị lạc lõng không? Rất may không. Ở trong khu vực tôi sống, có một ông nước ngoài chỉ mua Coca-cola. Vì thế, tôi và ông này là khách hàng quen thuộc của một cửa hàng nhỏ. Một lần tôi đi mua Coca, chi chủ quán nói hết rồi vì ông Tây đó mua cả thùng. Ác ghê nhỉ?
Tôi có tham gia mạng xã hội Facebook và phát hiện fan hâm mộ Coca-Cola nhiều hơn hẳn.
Trong danh sách sách top 100 thương hiệu hàng đầu năm 2009 này thì Coca-cola cũng đứng vị trí số 1, trong khi Pepsi chỉ đứng thứ 22. (Cái hình ảnh người đạp xích lô chở thùng Coca-cola là ở Việt Nam đó!)
Tôi tình cờ phát hiện ra một điều lý thú là nhiều người có liên quan đến tài chính thì đều thích Coca-Cola hơn Pepsi.
Một ví dụ mọi người dễ thấy nhất Warren Buffett thích uống Coca-Cola, cũng giàu lên từ đầu tư vào Coca-Cola.
À, bạn xem Bill Gates quảng cáo Coca-Cola chưa nhỉ? Nghe đâu cũng là một tay nghiện nặng.
Mua Nhà Cho Thuê
Đã từ lâu người dân, đặc biệt là các chủ nhà thường mua nhà cho thuê lại (buy-to-let) để kiếm thêm chút lời. Tuy nhiên, các ngân hàng lại xếp việc mua nhà này vào hình thức vay tiêu dùng nên phải chịu một mức lãi suất thoả thuận dao động từ 12-14%.
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành công văn gởi các ngân hàng thương mại yêu cầu không áp dụng lãi suất thỏa thuận mà áp dụng lãi suất trần 10.5% giống như hoạt động kinh doanh. Riêng vay nhà mà người vay trả lãi bằng lương thì vẫn áp dụng lãi suất thoả thuận riêng.

Như vậy, có thể hiểu là ngân hàng trung ương đã có bước tiến có lợi hơn cho người vay tiền. Mặc dù vậy, theo như báo chí thì trước khi ngân hàng nhà nước có đợt thanh tra về hoạt độn cho vay tiêu dùng thì nhiều ngân hàng thậm chí không áp dụng lãi suất trần cho hoạt động kinh doanh. Như Tuổi Trẻ đưa tin thì nhiều ngân hàng cho vay để kinh doanh chứng khoán với lãi suất 15-15,6%/năm.
Vậy, có một vấn đề đặt ra là tính minh bạch của hoạt động tín dụng. Dĩ nhiên, người Việt Nam nào, đặc biệt là những người đã từng đi vay ngân hàng, cũng hiểu là phải dùng tiền lót tay ngay cả khi mình thỏa mọi điều kiện. Tính minh bạch cũng là vấn đề cân nhắc. Như bạn thấy là Fannie Mae và Freddie Mac đã làm thế giới quay cuồng vì hoạt động cho vay dưới chuẩn của mình.
Khi giá nhà đất xu hướng tăng thì hoạt động đầu tư cho residential property cũng nhộn nhịp theo. Khi ngân hàng trung ương xếp vào hoạt động kinh doanh, thì tất có sự gia tăng nhất định về nhu cầu đầu tư.
Ở góc độ cá nhân của một nhà đầu tư, thì đó là chuyện lời lỗi riêng của bản thân. Anh phải tính toán, dự báo tốt, chuyên nghiệp hơn thì anh tính NOI, tỉ suất lợi nhuận v.v.. Theo tôi, ở Việt Nam thì thường thấy người ta trả góp mua nhà, rồi đem nhà đó cho thuê lại. Tôi cũng có bạn làm cách này, nhưng nếu tính kỹ thì rất không ổn. Trả góp là mang nợ, ai cũng hiểu là nếu có tiền trả một cục thì okay liền. Trả góp thì mình vừa đóng tiền cọc (prepayment), và lãi (interest) + gốc (principal) hàng tháng. Còn ngân hàng cho vay lại lấy tiền của mình cho người khác vay.
Ở góc độ vĩ mô, ngân hàng làm chủ khoản vay của bạn. Nếu tình hình kinh tế bất lợi, dễ xảy ra chuyện ép lãi suất, mất khả năng chi trả, thanh lý, phát mãi tài sản thế chấp. Bất lợi thuộc về người cho vay. Nếu có quá nhiều người đi vay, nhiều ngân hàng tích cực cho vay, nhiều người không thể thanh toán nhân hàng, ngân hàng phát mãi nhưng vào thời điểm thị trường lình xình hay đóng băng thì hậu quả là một cuộc đổ vỡ tín dụng.
Do đó, rất cần sự quản lý chặt từ ngân hàng trung ương về hoạt động mua nhà cho thuê, đặc biệt là trả góp thế chấp.
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành công văn gởi các ngân hàng thương mại yêu cầu không áp dụng lãi suất thỏa thuận mà áp dụng lãi suất trần 10.5% giống như hoạt động kinh doanh. Riêng vay nhà mà người vay trả lãi bằng lương thì vẫn áp dụng lãi suất thoả thuận riêng.

Như vậy, có thể hiểu là ngân hàng trung ương đã có bước tiến có lợi hơn cho người vay tiền. Mặc dù vậy, theo như báo chí thì trước khi ngân hàng nhà nước có đợt thanh tra về hoạt độn cho vay tiêu dùng thì nhiều ngân hàng thậm chí không áp dụng lãi suất trần cho hoạt động kinh doanh. Như Tuổi Trẻ đưa tin thì nhiều ngân hàng cho vay để kinh doanh chứng khoán với lãi suất 15-15,6%/năm.
Vậy, có một vấn đề đặt ra là tính minh bạch của hoạt động tín dụng. Dĩ nhiên, người Việt Nam nào, đặc biệt là những người đã từng đi vay ngân hàng, cũng hiểu là phải dùng tiền lót tay ngay cả khi mình thỏa mọi điều kiện. Tính minh bạch cũng là vấn đề cân nhắc. Như bạn thấy là Fannie Mae và Freddie Mac đã làm thế giới quay cuồng vì hoạt động cho vay dưới chuẩn của mình.
Khi giá nhà đất xu hướng tăng thì hoạt động đầu tư cho residential property cũng nhộn nhịp theo. Khi ngân hàng trung ương xếp vào hoạt động kinh doanh, thì tất có sự gia tăng nhất định về nhu cầu đầu tư.
Ở góc độ cá nhân của một nhà đầu tư, thì đó là chuyện lời lỗi riêng của bản thân. Anh phải tính toán, dự báo tốt, chuyên nghiệp hơn thì anh tính NOI, tỉ suất lợi nhuận v.v.. Theo tôi, ở Việt Nam thì thường thấy người ta trả góp mua nhà, rồi đem nhà đó cho thuê lại. Tôi cũng có bạn làm cách này, nhưng nếu tính kỹ thì rất không ổn. Trả góp là mang nợ, ai cũng hiểu là nếu có tiền trả một cục thì okay liền. Trả góp thì mình vừa đóng tiền cọc (prepayment), và lãi (interest) + gốc (principal) hàng tháng. Còn ngân hàng cho vay lại lấy tiền của mình cho người khác vay.
Ở góc độ vĩ mô, ngân hàng làm chủ khoản vay của bạn. Nếu tình hình kinh tế bất lợi, dễ xảy ra chuyện ép lãi suất, mất khả năng chi trả, thanh lý, phát mãi tài sản thế chấp. Bất lợi thuộc về người cho vay. Nếu có quá nhiều người đi vay, nhiều ngân hàng tích cực cho vay, nhiều người không thể thanh toán nhân hàng, ngân hàng phát mãi nhưng vào thời điểm thị trường lình xình hay đóng băng thì hậu quả là một cuộc đổ vỡ tín dụng.
Do đó, rất cần sự quản lý chặt từ ngân hàng trung ương về hoạt động mua nhà cho thuê, đặc biệt là trả góp thế chấp.
Văn Hóa Xếp Hàng
Một câu hỏi được đặt ra là Việt Nam có văn hóa xếp hàng không?
Nếu máy móc hỏi định nghĩa văn hóa là thì có quá nhiều định nghĩa về từ này nhưng tôi thấy có một điểm chung đó là tính cộng đồng. Nên chuyện có văn hoá xếp hàng hay không thì còn phải xem cả xã hội thế nào.

Tôi xin nêu vài trường hợp thế này:
1. Tôi làm thủ tục kiểm tra vé ở sân bay Nội Bài. Vietnam Airlines có hệ thống căng dây hình zigzag đủ nhỏ để một người và hành lý có thể đẩy qua. Bạn nghĩ rằng sẽ không có sự chen lấn? Sai. Một anh thanh niên vội vàng đẩy xe chứa hàng lý lên ngày trước mặt tôi mặc dù tôi bước đi liền theo người bạn phía trước. Bực mình tôi nói với anh ta: "Anh vui lòng đừng chen lấn, phía sau tôi vẫn còn 2 người nữa." Khi đó anh ta mới thôi lấn lướt và trả lời gọn lỏn: "Biết rồi."
2. Tôi đi xem một hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao ở trung tâm thể dục thể thao Phú Thọ (Sài Gòn). Tôi phải chờ trong một hàng cũng khá dài để gửi xe (tôi đi xe máy). Bỗng có một anh cũng đẹp trai mặc đồ khá bảnh bao và đeo cravat hồng ở đâu phi ngang lên vỉa hè và lao lên ngay trước bánh xe của tôi. Lại bực mình nữa đúng không. Tôi nói với anh: "Cravat trông đẹp vậy mà sao lại chen lấn thế này?". Anh hơi cúi mặt, không nói gì. Tôi hơi lùi để anh chui lên trước.
3. Tôi ăn trưa ở một tiệm KFC, gần Windsor Plaza Hotel (Q5, Sài Gòn), vô tình ngồi chung bàn với hai mẹ con người Việt Nam. Nói chuyện một lúc thì khách đông, chị (người mẹ) kêu tôi quay lại nhìn ở quầy dịch vụ, chị nói: "Người nước ngoài người ta lịch sự, có ý thức ghê. Người ta xếp hàng dài chờ thế kia, còn người Việt mình thì chen đẩy nhau." Quả đúng như chị nói, những người nước ngoài đứng thành một hàng, không thằng như lính diễu binh, nhưng khá thẳng. Còn những người Việt Nam thì bu lại một cụm quay quầy dịch vụ. Đây là một khập khiễng vô cùng lớn. Nếu bạn so sánh người Việt Nam với người nước ngoài ở hai địa điểm khác nhau thì có thể đổ thừa hoàn cảnh nhưng ở cùng một nơi thế này thì đó là vấn đề ý thức. Rất tiếc tôi không đem theo máy chụp hình để ghi lại.
Phải xếp hàng là điều không ai muốn, nhưng nếu phải xếp hàng thì một người phải tuân theo, first-come, first-served mà. Sẵn sàng xếp hàng là một thói quen mà con người nhận thức được. Với cái cách trả lời cụt ngủn trong tình huống 1, tôi không nghĩ anh ta nhận thức được gì. Thường thì người ta hay nói "Ơ, xin lỗi, tôi vô ý quá.".
Việc ý thức và tập dần thói quen là hoàn toàn có thể làm được. Trong câu chuyện với người phụ nữ ở tình huống 3, chị nói vần đề ở đây là giáo dục. Điều này làm tôi nhớ đến một bài thơ hồi cấp một:
Đàn Kiến Nó Đi
Định Hải
“Một đàn kiến nhỏ
Chạy ngược chạy xuôi
Chẳng ra hàng dọc,
Chẳng thành hàng đôi
Chúng em vào lớp,
Sóng bước hai hàng,
Chẳng như kiến nọ,
Rối tinh cả đàn".
Chúng ta được dạy những thứ như thế này ngay từ thuở nhỏ nhưng lớn lên thì đều trả thầy cô rồi. Trong số những lý do mà chúng ta trở thành bầy kiến, có phần lý do liên quan đến kinh tế. Tôi nghĩ là chúng ta từ sống thời bao cấp. Sự thiếu thốn về hàng hoá, dịch vụ làm cho con người phải tranh nhau giành miếng ăn. Cái này ảnh hưởng cả xã hội, chúng ta xuề xòa và bỏ qua mọi chuyện và lâu dần người ta trở nên quen với những thứ như vậy. Cha mẹ không dạy con cái bởi bản thân họ cũng chen nhau, mệnh ai người ấy lấy. Ở phần này tôi thấy, ở Hà Nội hay miền Bắc thấy rất rõ. Người ta có thể chửi cha chửi mẹ, văng tục bất cứ lúc nào chỉ vì hai chiếc xe va quệt nhau. Tôi đi xe taxi dịch vụ vào loại tốt nhât Việt Nam mà tài xế chửi thề rất khó coi chỉ vì một người qua đường làm anh ta chậm mấy giây. Ở Sài Gòn, ít thấy như vậy, phần lớn họ chỉ nói vài câu trách móc, nhắc nhở rồi tất cả cùng đi.
Cũng về chuyện ý thức, chắc các bạn cũng chẳng xa lạ gì chuyện các bạn trẻ Hà Nội bẻ hoa lễ hội anh đào. Trong một bản tin thời sự gần đây, biên tập viên VTV nói hy vọng ý thức sẽ được cải thiện.
Những điều đáng mừng
Ở Sài Gòn, nhiều doanh nghiệp dịch vụ với khách hàng nhiều thường bấm số thứ tự, làm barrier hình zigzag. Tôi nghĩ rằng nếu làm như vậy sẽ tập thói quen phải xếp hàng theo thứ tự. Tôi đi nhiều siêu thị ở Sài Gòn, rất nhiều nơi (không dám khẳng định tất cả vì tôi không thể đi hết các siêu thị được) người ta không chấp nhận chen lấn để tính tiền. Và thực tế tôi cũng ít thấy chuyện chen lấn tính tiền ở siêu thị. Ở rạp chiếu phim như Megastar, người ta cũng căng dây zigzag và chẳng thấy chen lấn.
Bạn nghĩ sao nếu luật pháp quy định những chỗ công cộng như quầy vé ở nhà ga, bến xe bus, nhà hát, rạp cine, bệnh viện, sở thuế hay phòng công chứng phải có dây xích, barrier chăng, giống như việc đội nón bảo hiểm là bắt buộc?
Tôi hy vọng là một ngày nào đó, cà những nơi không có rào chắn người ta cũng ý thức được việc xếp hàng. Đó cũng là nét văn minh đô thị.
Nếu máy móc hỏi định nghĩa văn hóa là thì có quá nhiều định nghĩa về từ này nhưng tôi thấy có một điểm chung đó là tính cộng đồng. Nên chuyện có văn hoá xếp hàng hay không thì còn phải xem cả xã hội thế nào.

Tôi xin nêu vài trường hợp thế này:
1. Tôi làm thủ tục kiểm tra vé ở sân bay Nội Bài. Vietnam Airlines có hệ thống căng dây hình zigzag đủ nhỏ để một người và hành lý có thể đẩy qua. Bạn nghĩ rằng sẽ không có sự chen lấn? Sai. Một anh thanh niên vội vàng đẩy xe chứa hàng lý lên ngày trước mặt tôi mặc dù tôi bước đi liền theo người bạn phía trước. Bực mình tôi nói với anh ta: "Anh vui lòng đừng chen lấn, phía sau tôi vẫn còn 2 người nữa." Khi đó anh ta mới thôi lấn lướt và trả lời gọn lỏn: "Biết rồi."
2. Tôi đi xem một hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao ở trung tâm thể dục thể thao Phú Thọ (Sài Gòn). Tôi phải chờ trong một hàng cũng khá dài để gửi xe (tôi đi xe máy). Bỗng có một anh cũng đẹp trai mặc đồ khá bảnh bao và đeo cravat hồng ở đâu phi ngang lên vỉa hè và lao lên ngay trước bánh xe của tôi. Lại bực mình nữa đúng không. Tôi nói với anh: "Cravat trông đẹp vậy mà sao lại chen lấn thế này?". Anh hơi cúi mặt, không nói gì. Tôi hơi lùi để anh chui lên trước.
3. Tôi ăn trưa ở một tiệm KFC, gần Windsor Plaza Hotel (Q5, Sài Gòn), vô tình ngồi chung bàn với hai mẹ con người Việt Nam. Nói chuyện một lúc thì khách đông, chị (người mẹ) kêu tôi quay lại nhìn ở quầy dịch vụ, chị nói: "Người nước ngoài người ta lịch sự, có ý thức ghê. Người ta xếp hàng dài chờ thế kia, còn người Việt mình thì chen đẩy nhau." Quả đúng như chị nói, những người nước ngoài đứng thành một hàng, không thằng như lính diễu binh, nhưng khá thẳng. Còn những người Việt Nam thì bu lại một cụm quay quầy dịch vụ. Đây là một khập khiễng vô cùng lớn. Nếu bạn so sánh người Việt Nam với người nước ngoài ở hai địa điểm khác nhau thì có thể đổ thừa hoàn cảnh nhưng ở cùng một nơi thế này thì đó là vấn đề ý thức. Rất tiếc tôi không đem theo máy chụp hình để ghi lại.
Phải xếp hàng là điều không ai muốn, nhưng nếu phải xếp hàng thì một người phải tuân theo, first-come, first-served mà. Sẵn sàng xếp hàng là một thói quen mà con người nhận thức được. Với cái cách trả lời cụt ngủn trong tình huống 1, tôi không nghĩ anh ta nhận thức được gì. Thường thì người ta hay nói "Ơ, xin lỗi, tôi vô ý quá.".
Việc ý thức và tập dần thói quen là hoàn toàn có thể làm được. Trong câu chuyện với người phụ nữ ở tình huống 3, chị nói vần đề ở đây là giáo dục. Điều này làm tôi nhớ đến một bài thơ hồi cấp một:
Đàn Kiến Nó Đi
Định Hải
“Một đàn kiến nhỏ
Chạy ngược chạy xuôi
Chẳng ra hàng dọc,
Chẳng thành hàng đôi
Chúng em vào lớp,
Sóng bước hai hàng,
Chẳng như kiến nọ,
Rối tinh cả đàn".
Chúng ta được dạy những thứ như thế này ngay từ thuở nhỏ nhưng lớn lên thì đều trả thầy cô rồi. Trong số những lý do mà chúng ta trở thành bầy kiến, có phần lý do liên quan đến kinh tế. Tôi nghĩ là chúng ta từ sống thời bao cấp. Sự thiếu thốn về hàng hoá, dịch vụ làm cho con người phải tranh nhau giành miếng ăn. Cái này ảnh hưởng cả xã hội, chúng ta xuề xòa và bỏ qua mọi chuyện và lâu dần người ta trở nên quen với những thứ như vậy. Cha mẹ không dạy con cái bởi bản thân họ cũng chen nhau, mệnh ai người ấy lấy. Ở phần này tôi thấy, ở Hà Nội hay miền Bắc thấy rất rõ. Người ta có thể chửi cha chửi mẹ, văng tục bất cứ lúc nào chỉ vì hai chiếc xe va quệt nhau. Tôi đi xe taxi dịch vụ vào loại tốt nhât Việt Nam mà tài xế chửi thề rất khó coi chỉ vì một người qua đường làm anh ta chậm mấy giây. Ở Sài Gòn, ít thấy như vậy, phần lớn họ chỉ nói vài câu trách móc, nhắc nhở rồi tất cả cùng đi.
Cũng về chuyện ý thức, chắc các bạn cũng chẳng xa lạ gì chuyện các bạn trẻ Hà Nội bẻ hoa lễ hội anh đào. Trong một bản tin thời sự gần đây, biên tập viên VTV nói hy vọng ý thức sẽ được cải thiện.
Những điều đáng mừng
Ở Sài Gòn, nhiều doanh nghiệp dịch vụ với khách hàng nhiều thường bấm số thứ tự, làm barrier hình zigzag. Tôi nghĩ rằng nếu làm như vậy sẽ tập thói quen phải xếp hàng theo thứ tự. Tôi đi nhiều siêu thị ở Sài Gòn, rất nhiều nơi (không dám khẳng định tất cả vì tôi không thể đi hết các siêu thị được) người ta không chấp nhận chen lấn để tính tiền. Và thực tế tôi cũng ít thấy chuyện chen lấn tính tiền ở siêu thị. Ở rạp chiếu phim như Megastar, người ta cũng căng dây zigzag và chẳng thấy chen lấn.
Bạn nghĩ sao nếu luật pháp quy định những chỗ công cộng như quầy vé ở nhà ga, bến xe bus, nhà hát, rạp cine, bệnh viện, sở thuế hay phòng công chứng phải có dây xích, barrier chăng, giống như việc đội nón bảo hiểm là bắt buộc?
Tôi hy vọng là một ngày nào đó, cà những nơi không có rào chắn người ta cũng ý thức được việc xếp hàng. Đó cũng là nét văn minh đô thị.
Every Breath Bernanke Takes
Wall Street Journal đưa tin Ben Bernanke đang lo ngại về thâm hụt thương mại (trade deficit) của Mỹ với các nước đang phát triển ngày càng lớn và lên tiếng kêu gọi các nhà làm chính sách ở Mỹ và các nước châu Á hành động.
Còn chúng ta làm gì? Nghe một bài hát parody Every Breath Bernanke Takes, nhại từ bài Every Breath You Take của ban nhạc The Police vậy.
Bài này xuất hiện cách đây cũng 3 năm rồi, nội dung có vẻ hơi chê nhưng cũng cho thấy rằng tiếng nói của một vị chủ tịch của một central bank, Federal Reserve, luôn được người ta theo dõi.
Còn chúng ta làm gì? Nghe một bài hát parody Every Breath Bernanke Takes, nhại từ bài Every Breath You Take của ban nhạc The Police vậy.
Bài này xuất hiện cách đây cũng 3 năm rồi, nội dung có vẻ hơi chê nhưng cũng cho thấy rằng tiếng nói của một vị chủ tịch của một central bank, Federal Reserve, luôn được người ta theo dõi.
Emergency Fund - Quỹ Dự Phòng Khẩn Cấp
Quỹ emergency fund - dự phòng trong trường hợp khẩn cấp là một việc thiết yếu chứ không phải như các món đồ thời trang thời thượng mà tôi có giới thiệu một lần. Các nhà lập kế hoạch tài chính cá nhân luôn khuyênr ằng việc xây dựng một quỹ dự phòng như vậy là việc đầu tiên phải làm khi lập một kế hoạch tài chính cho mỗi người.

Mục đích của quỹ này
Là đề phòng khi mình có thể bị mất việc không cần biết lý do là gì. Phòng trường hợp như căn nhà của bạn bất chớt phải chi tiêu lớn vì dụ xe ủi vô ý đâm vào, bạn cần làm cửa, mái nhà mới, hay nhà có người bị bệnh tật đau ốm mà bạn không lường trước được.
Khi có quỹ phòng thân này, có thể yên tâm làm công việc kinh doanh, đầu tư của mình. Thử tưởng tượng nếu bạn không có khoản này, một ngày kia bạn dồn hết tiền mua bất động sản nhưng bỗng có một sự kiện bất giờ khiến bạn phải chi trả một khoản tiền, lúc đó bạn mới thấy ý nghĩa của quỹ dự phòng như thế nào.
Trước đây, tôi có làm một survey về vấn đề tiền lương, nhưng không ai ở Việt Nam mà tôi gởi bản survey có ý thức về emergency fund, mặc dù có nghe nói.
Cần bao nhiều tiền cho quỹ dự phòng
Chuyên gia tư vấn tài chính cá nhân sẽ khuyên rằng bãn sẽ bỏ ra một lượng tiền mặt tương ứng với từ 3 đến 6 tháng chi tiêu. 3 tháng là tối thiểu, nhưng theo thôi được biết thì một người mất việc có thể phải mất tới 6 tháng để tìm được một công việc mới.
Mỗi người, mỗi gia đình khác nhau nên số tiền cần thiết cho một quỹ dự phòng sẽ thay đổi theo từng người.
Ở Mỹ, người ta có thông kê về số liệu chi tiêu một năm là $49,638 (2007, U.S. Department of Labor) nên có thể tính ngày một quỹ sẽ cần là $24,819.00.
Ở Việt Nam, tôi chưa tìm được số liệu tương tự. Có thế áng chừng con số tối thiểu cũng khoảng 3.000.000đ/tháng. Còn chi tiết hơn tôi tính thế này:
Thua nhập trung bình một người ở tp HCM, năm 2006 là 2.302.000đ (www.molisa.gov.vn)
Lạm phát trung bình 2007, 2008, 2009 là 8.3 %, 22.97% và 7% (dự tính) nên mức lương sẽ phải là 3.280.323
Trừ 10% tiết kiệm thì chi phí hàng tháng sẽ là 2.952.291
Vậy tính ra áng chừng 3 triệu đồng tháng là hợp lý. Và quỹ emergency fund sẽ cần là 3 triệu x 6 = 18 triệu.
Như đã nói ở trên mỗi người có nhu cầu chi tiêu khác nhau nên sẽ có mức dự phòng khác nhau.
Tiến hành lập và "quản lý" quỹ
Khi nào lập quỹ? Ngay bây giờ. Bạn phải dành ra số tiền cần thiết tùy theo thu nhập cá nhân của bạn.
Để quỹ ở đâu? Dĩ nhiên không phải để trong nhà bạn vì i) Dễ mất trộm, cắp, hoặc nhiều khi cháy mất ii) tiền để không thì mất giá. Lời khuyên tốt là dồn vào trong chứng chỉ tiền gởi ở ngân hàng, tài khoản ngân hàng vì chúng an toàn mà còn được thêm chút tiền lời dù không nhiều lắm. (Ở Mỹ có quỹ 401K miễn thuế, nhưng nếu để ở đây thì lại lộn xộn, nhầm lẫn với kế hoạch nghỉ hưu.)
Xây dựng quỹ cũng không phải quá khó. Bạn phải cắt giảm chi tiêu, không mua sắm xa xỉ, hoãn kế hoạch du lịch, đi ăn tiệm ít hơn. Dĩ nhiên lọai bỏ thẻ tín dụng vì chúng mang nợ cho bạn. Quỹ của bạn bắt đầu từ những khoản tiết kiệm nhỏ nhặt.
Khi bạn đã có đủ số tiền cho quỹ của mình, một lời khuyên là nhất quyết không bao giờ đụng vào số tiền này, trừ trường hợp bất khả kháng như mất việc, người thân qua đời cần tiền mai táng, mất trộm xe, hàng xóm bỗng nhiên bị đau tim nhập viện, hay khách hàng của bạn có 2 đưa con bị tai nạn, một đã chết...
Tôi có đọc trên một blog rằng có một anh Việt kiều ở hải ngoại có làm một quỹ dự phòng cho bà mẹ ở Việt Nam. Có nhiều lúc người thân, gia đình muốn mượn tiền mua đất vì để trong ngân hàng chẳng bõ bèn gì. Nhưng anh này nhất định không chịu vì đó là tiền để phòng ốm đau cho bà mẹ nên anh muốn lúc nào cũng sẵn có nó.
Việc xây dựng quỹ emergency fund là một quan trọng và cần làm ngay. Nó không phải là con heo đất mà mấy đưa con nít sẵn sàng đập đi khi muốn mua đồ chơi. Vì vậy nếu bạn đã lập một quỹ cho bản thân, thì nhất định chỉ sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp mà thôi.

Mục đích của quỹ này
Là đề phòng khi mình có thể bị mất việc không cần biết lý do là gì. Phòng trường hợp như căn nhà của bạn bất chớt phải chi tiêu lớn vì dụ xe ủi vô ý đâm vào, bạn cần làm cửa, mái nhà mới, hay nhà có người bị bệnh tật đau ốm mà bạn không lường trước được.
Khi có quỹ phòng thân này, có thể yên tâm làm công việc kinh doanh, đầu tư của mình. Thử tưởng tượng nếu bạn không có khoản này, một ngày kia bạn dồn hết tiền mua bất động sản nhưng bỗng có một sự kiện bất giờ khiến bạn phải chi trả một khoản tiền, lúc đó bạn mới thấy ý nghĩa của quỹ dự phòng như thế nào.
Trước đây, tôi có làm một survey về vấn đề tiền lương, nhưng không ai ở Việt Nam mà tôi gởi bản survey có ý thức về emergency fund, mặc dù có nghe nói.
Cần bao nhiều tiền cho quỹ dự phòng
Chuyên gia tư vấn tài chính cá nhân sẽ khuyên rằng bãn sẽ bỏ ra một lượng tiền mặt tương ứng với từ 3 đến 6 tháng chi tiêu. 3 tháng là tối thiểu, nhưng theo thôi được biết thì một người mất việc có thể phải mất tới 6 tháng để tìm được một công việc mới.
Mỗi người, mỗi gia đình khác nhau nên số tiền cần thiết cho một quỹ dự phòng sẽ thay đổi theo từng người.
Ở Mỹ, người ta có thông kê về số liệu chi tiêu một năm là $49,638 (2007, U.S. Department of Labor) nên có thể tính ngày một quỹ sẽ cần là $24,819.00.
Ở Việt Nam, tôi chưa tìm được số liệu tương tự. Có thế áng chừng con số tối thiểu cũng khoảng 3.000.000đ/tháng. Còn chi tiết hơn tôi tính thế này:
Thua nhập trung bình một người ở tp HCM, năm 2006 là 2.302.000đ (www.molisa.gov.vn)
Lạm phát trung bình 2007, 2008, 2009 là 8.3 %, 22.97% và 7% (dự tính) nên mức lương sẽ phải là 3.280.323
Trừ 10% tiết kiệm thì chi phí hàng tháng sẽ là 2.952.291
Vậy tính ra áng chừng 3 triệu đồng tháng là hợp lý. Và quỹ emergency fund sẽ cần là 3 triệu x 6 = 18 triệu.
Như đã nói ở trên mỗi người có nhu cầu chi tiêu khác nhau nên sẽ có mức dự phòng khác nhau.
Tiến hành lập và "quản lý" quỹ
Khi nào lập quỹ? Ngay bây giờ. Bạn phải dành ra số tiền cần thiết tùy theo thu nhập cá nhân của bạn.
Để quỹ ở đâu? Dĩ nhiên không phải để trong nhà bạn vì i) Dễ mất trộm, cắp, hoặc nhiều khi cháy mất ii) tiền để không thì mất giá. Lời khuyên tốt là dồn vào trong chứng chỉ tiền gởi ở ngân hàng, tài khoản ngân hàng vì chúng an toàn mà còn được thêm chút tiền lời dù không nhiều lắm. (Ở Mỹ có quỹ 401K miễn thuế, nhưng nếu để ở đây thì lại lộn xộn, nhầm lẫn với kế hoạch nghỉ hưu.)
Xây dựng quỹ cũng không phải quá khó. Bạn phải cắt giảm chi tiêu, không mua sắm xa xỉ, hoãn kế hoạch du lịch, đi ăn tiệm ít hơn. Dĩ nhiên lọai bỏ thẻ tín dụng vì chúng mang nợ cho bạn. Quỹ của bạn bắt đầu từ những khoản tiết kiệm nhỏ nhặt.
Khi bạn đã có đủ số tiền cho quỹ của mình, một lời khuyên là nhất quyết không bao giờ đụng vào số tiền này, trừ trường hợp bất khả kháng như mất việc, người thân qua đời cần tiền mai táng, mất trộm xe, hàng xóm bỗng nhiên bị đau tim nhập viện, hay khách hàng của bạn có 2 đưa con bị tai nạn, một đã chết...
Tôi có đọc trên một blog rằng có một anh Việt kiều ở hải ngoại có làm một quỹ dự phòng cho bà mẹ ở Việt Nam. Có nhiều lúc người thân, gia đình muốn mượn tiền mua đất vì để trong ngân hàng chẳng bõ bèn gì. Nhưng anh này nhất định không chịu vì đó là tiền để phòng ốm đau cho bà mẹ nên anh muốn lúc nào cũng sẵn có nó.
Việc xây dựng quỹ emergency fund là một quan trọng và cần làm ngay. Nó không phải là con heo đất mà mấy đưa con nít sẵn sàng đập đi khi muốn mua đồ chơi. Vì vậy nếu bạn đã lập một quỹ cho bản thân, thì nhất định chỉ sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp mà thôi.
Blog Kinh Tế Tài Chính
Tổng hợp một số blog về tài chính, blog về kinh tế nổi tiếng thế giới. Phần lớn các blog này là băng tiếng Anh, và phần lớn ở Mỹ. Chú ý, nhiều blog phân tích, chú trọng quá sâu vào thị trường chứng khoán Mỹ nên người Việt Nam có lẽ sẽ không cảm thấy hữu ích, nhưng với lý do tham khảo tôi vẫn để liệt kê ở đây. Blog tài chính Việt Nam hay kinh tế tiếng Việt thì hoàn toàn lẻ tẻ, nằm ở bên dưới.
http://blogs.wsj.com/economics/ Real Time Economics Blog của nhóm columnist trên WSJ.com, viết về kinh tế, chính sách của Fed và kinh tế học.
http://economix.blogs.nytimes.com/ Economix Nhóm columnist trên tờ New York Times viết về đề tài kinh tế và vấn đề thực tế hằng ngày liên quan đến kinh tế.
http://krugman.blogs.nytimes.com/ Blog của Paul Krugman, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel 2008. Krugman là một columnist của New York Times, chủ yếu nói về kinh tế vĩ mô, và kinh tế học.
http://www.economist.com/blogs/freeexchange/ Free Exchange của The Economist, nói rất nhiều về kinh tế, kinh tế học.
http://www.ritholtz.com/blog/ Blog The Big Picture của Barry Ritholtz, viết cũng nhiều đề tài về thị trường tài chính quốc tế, và các thang biểu kinh tế. Minh hoạ nhiều bằng đồ thị.
http://globaleconomicanalysis.blogspot.com/ Blog Global Economic Trend Analysis của Mike Shedlock, thường gọi Mish, một nhà tư vấn đầu tư. Blog viết về kinh tế và các xu hướng toàn cầu.
http://www.nakedcapitalism.com/ Bình luận về các tin tức kinh tế, tài chính quốc tế.
http://gregmankiw.blogspot.com/ Greg Mankiw là giáo sư kinh tế học ở Harvard, dĩ nhiên blog xoay quanh các vấn đề kinh tế.
http://ftalphaville.ft.com/blog/ Blog do các columnist của Financial Times viết. Các bài viết nói về đầu tư, hàng hoá cơ bản, thị trường vốn, sáp nhập, quỹ…
http://247wallst.com/ bình luận, phân tích đầu tư chứng khoán Mỹ và toàn cầu.
http://baselinescenario.com/ Baseline Scenario - Blog của Simon Johnson nhận định về kinh tế.
http://delong.typepad.com/ J. Bradford DeLong blog về kihh tế và kinh tế học.
http://caracommunity.com/ Bill Cara phân tích thị trường vốn, sự lên xuống cổ phiếu và nền kinh tế với cái nhìn từ phân tích kỹ thuật.
http://paul.kedrosky.com/ Infectious Greed, blog của Paul Kedrosky, viết dưới cái nhìn của một phân tích công nghệ, quản lý tiền và tư bản, bình luận về thị trường toàn cầu, xu hướng kinh tế.
http://economistsview.typepad.com/ Blog của Mark Thoma, khoa kinh tế, ĐH Oregon, nói về vần đề kinh tế.
http://www.econbrowser.com/ Econ Browser: phân tích tình trạng và chính sách kinh tế do 2 giáo sư James D. Hamilton, và Menzie Chinn viết. Blog không dành cho người có quá ít kiến thức.
http://www.marginalrevolution.com/ Blog của 2 nhà kinh tế học là Tyler Cowen và Alex Tabarrok nói về kinh tế thế giới, kinh tế học.

http://bespokeinvest.typepad.com/ Bespoke Invest, là blog về quản lý tiền và nghiên cứu thị trường. Blog gồm có phân tích kỹ thuật, bình luận về xu hướng kinh tế, các phân khúc của thị trường cổ phiếu và tiền tệ.
http://freakonomics.blogs.nytimes.com/ Một blog nổi tiếng với kiến thức sâu về kinh tế học.
http://angrybear.blogspot.com/ Sản phẩm của một nhóm gồm các Ph.D economists, một nhà lịch sử học, và những chuyên gia tài chính. Viết về nhiều khía cạnh kinh tế khác nhau.
http://www.businessinsider.com/clusterstock Cluster stock do một độ ngũ viết bình luận về tin tức thị trường cổ phiếu, kinh doanh, tin tức kinh tế trong ngày.
http://www.calculatedriskblog.com/ Calculated Risk bàn nhiều về những nhận định kinh tế, và viết nhiều về nhà ở, đầu tư bất động sản.
http://www.peridotcapitalist.com/ Peridot Capitalist, blog tài chính viết bởi một nhà quản lý tiền. Nói nhiều về phân tích lợi nhuận doanh nghiệp và cổ phiếu định giá thấp .
http://tickersense.typepad.com/ Ticker Sense nổi tiếng về weekly poll của blogger tài chính về tâm lý thị trường. Viết bởi cty quản lý tiền Birinyi Associates. Phân tích tkinh tế toàn cầu, thị trường chứng khoán. Sử dụng bảng, đồ thị.
http://www.kathylien.com/site/ Một chiến lược gia về giao dịch tiền tệ, Kathy Lien viết về lĩnh vực của mình. Kathy có nhiều fan hâm mộ ở châu Á.
http://www.zerohedge.com/ Một nhóm viết về giao dịch chứng khoán với những tin tin liên quan.
http://mpettis.com/ Blog của Michael Pettis, giáo sư Peking University’s Guanghua School of Management nói thị trường tài chính Trung Quốc.
Bonus: Blog về tài chính, kinh tế ở Việt Nam.
Phần lớn các blogger Việt chỉ toàn copy bài viết từ nguồn báo chí nên không có nhiều kết quả ở đây
http://kinhtetaichinh.blogspot.com/ (TS) Lê Giang viết về kinh tế vĩ mô và kinh tế học.
http://dukich.blogspot.com/ Một blog về đầu tư cá nhân với những phân tích về chứng khoán.
http://vn.myblog.yahoo.com/giang-tk/ Blog nói nhiều về phân tích tài chính. Tuy nhiên blog sử dụng Yahoo! nên buộc phải có tài khoản Yahoo! để tiếp cận nhận xét.
http://ytuongkinhtehoc.blogspot.com/ Blog này mới bắt đầu viết, nội dung dự định sẽ về vấn đề kinh tế và kinh tế học.(Blog trước đây là http://tanmandam.blogspot.com).
http://vn.myblog.yahoo.com/stockdenhat/ Một blog khác cũng nhận xét về thị trường chứng khoán Việt Nam. Sử dụng dịch vụ Yahoo!, giao diện không dễ nhìn.
http://vn.myblog.yahoo.com/stocks-vietnam Một nhóm chuyên viết về chứng khoán, phân tích kỹ thuật. Dịch vụ của Yahoo!
http://www.kienthuctaichinh.com/ Một blog viết về nhiều đề tài chứng khoán, tài chính, ngân hàng, quản trị doanh nghiệp nhưng thời gian gần đây không thấy viết thêm.
http://goldnewsvn.wordpress.com/ Chuyên phân tích kỹ thuật, chủ yếu giá vàng.
Nếu bạn thấy blog nào hay về những đề tài như trên thì xin giới thiệu bổ sung tôi với. Cảm ơn.
http://blogs.wsj.com/economics/ Real Time Economics Blog của nhóm columnist trên WSJ.com, viết về kinh tế, chính sách của Fed và kinh tế học.
http://economix.blogs.nytimes.com/ Economix Nhóm columnist trên tờ New York Times viết về đề tài kinh tế và vấn đề thực tế hằng ngày liên quan đến kinh tế.
http://krugman.blogs.nytimes.com/ Blog của Paul Krugman, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel 2008. Krugman là một columnist của New York Times, chủ yếu nói về kinh tế vĩ mô, và kinh tế học.
http://www.economist.com/blogs/freeexchange/ Free Exchange của The Economist, nói rất nhiều về kinh tế, kinh tế học.
http://www.ritholtz.com/blog/ Blog The Big Picture của Barry Ritholtz, viết cũng nhiều đề tài về thị trường tài chính quốc tế, và các thang biểu kinh tế. Minh hoạ nhiều bằng đồ thị.
http://globaleconomicanalysis.blogspot.com/ Blog Global Economic Trend Analysis của Mike Shedlock, thường gọi Mish, một nhà tư vấn đầu tư. Blog viết về kinh tế và các xu hướng toàn cầu.
http://www.nakedcapitalism.com/ Bình luận về các tin tức kinh tế, tài chính quốc tế.
http://gregmankiw.blogspot.com/ Greg Mankiw là giáo sư kinh tế học ở Harvard, dĩ nhiên blog xoay quanh các vấn đề kinh tế.
http://ftalphaville.ft.com/blog/ Blog do các columnist của Financial Times viết. Các bài viết nói về đầu tư, hàng hoá cơ bản, thị trường vốn, sáp nhập, quỹ…
http://247wallst.com/ bình luận, phân tích đầu tư chứng khoán Mỹ và toàn cầu.
http://baselinescenario.com/ Baseline Scenario - Blog của Simon Johnson nhận định về kinh tế.
http://delong.typepad.com/ J. Bradford DeLong blog về kihh tế và kinh tế học.
http://caracommunity.com/ Bill Cara phân tích thị trường vốn, sự lên xuống cổ phiếu và nền kinh tế với cái nhìn từ phân tích kỹ thuật.
http://paul.kedrosky.com/ Infectious Greed, blog của Paul Kedrosky, viết dưới cái nhìn của một phân tích công nghệ, quản lý tiền và tư bản, bình luận về thị trường toàn cầu, xu hướng kinh tế.
http://economistsview.typepad.com/ Blog của Mark Thoma, khoa kinh tế, ĐH Oregon, nói về vần đề kinh tế.
http://www.econbrowser.com/ Econ Browser: phân tích tình trạng và chính sách kinh tế do 2 giáo sư James D. Hamilton, và Menzie Chinn viết. Blog không dành cho người có quá ít kiến thức.
http://www.marginalrevolution.com/ Blog của 2 nhà kinh tế học là Tyler Cowen và Alex Tabarrok nói về kinh tế thế giới, kinh tế học.

http://bespokeinvest.typepad.com/ Bespoke Invest, là blog về quản lý tiền và nghiên cứu thị trường. Blog gồm có phân tích kỹ thuật, bình luận về xu hướng kinh tế, các phân khúc của thị trường cổ phiếu và tiền tệ.
http://freakonomics.blogs.nytimes.com/ Một blog nổi tiếng với kiến thức sâu về kinh tế học.
http://angrybear.blogspot.com/ Sản phẩm của một nhóm gồm các Ph.D economists, một nhà lịch sử học, và những chuyên gia tài chính. Viết về nhiều khía cạnh kinh tế khác nhau.
http://www.businessinsider.com/clusterstock Cluster stock do một độ ngũ viết bình luận về tin tức thị trường cổ phiếu, kinh doanh, tin tức kinh tế trong ngày.
http://www.calculatedriskblog.com/ Calculated Risk bàn nhiều về những nhận định kinh tế, và viết nhiều về nhà ở, đầu tư bất động sản.
http://www.peridotcapitalist.com/ Peridot Capitalist, blog tài chính viết bởi một nhà quản lý tiền. Nói nhiều về phân tích lợi nhuận doanh nghiệp và cổ phiếu định giá thấp .
http://tickersense.typepad.com/ Ticker Sense nổi tiếng về weekly poll của blogger tài chính về tâm lý thị trường. Viết bởi cty quản lý tiền Birinyi Associates. Phân tích tkinh tế toàn cầu, thị trường chứng khoán. Sử dụng bảng, đồ thị.
http://www.kathylien.com/site/ Một chiến lược gia về giao dịch tiền tệ, Kathy Lien viết về lĩnh vực của mình. Kathy có nhiều fan hâm mộ ở châu Á.
http://www.zerohedge.com/ Một nhóm viết về giao dịch chứng khoán với những tin tin liên quan.
http://mpettis.com/ Blog của Michael Pettis, giáo sư Peking University’s Guanghua School of Management nói thị trường tài chính Trung Quốc.
Bonus: Blog về tài chính, kinh tế ở Việt Nam.
Phần lớn các blogger Việt chỉ toàn copy bài viết từ nguồn báo chí nên không có nhiều kết quả ở đây
http://kinhtetaichinh.blogspot.com/ (TS) Lê Giang viết về kinh tế vĩ mô và kinh tế học.
http://dukich.blogspot.com/ Một blog về đầu tư cá nhân với những phân tích về chứng khoán.
http://vn.myblog.yahoo.com/giang-tk/ Blog nói nhiều về phân tích tài chính. Tuy nhiên blog sử dụng Yahoo! nên buộc phải có tài khoản Yahoo! để tiếp cận nhận xét.
http://ytuongkinhtehoc.blogspot.com/ Blog này mới bắt đầu viết, nội dung dự định sẽ về vấn đề kinh tế và kinh tế học.(Blog trước đây là http://tanmandam.blogspot.com).
http://vn.myblog.yahoo.com/stockdenhat/ Một blog khác cũng nhận xét về thị trường chứng khoán Việt Nam. Sử dụng dịch vụ Yahoo!, giao diện không dễ nhìn.
http://vn.myblog.yahoo.com/stocks-vietnam Một nhóm chuyên viết về chứng khoán, phân tích kỹ thuật. Dịch vụ của Yahoo!
http://www.kienthuctaichinh.com/ Một blog viết về nhiều đề tài chứng khoán, tài chính, ngân hàng, quản trị doanh nghiệp nhưng thời gian gần đây không thấy viết thêm.
http://goldnewsvn.wordpress.com/ Chuyên phân tích kỹ thuật, chủ yếu giá vàng.
Nếu bạn thấy blog nào hay về những đề tài như trên thì xin giới thiệu bổ sung tôi với. Cảm ơn.
October Effect - Hiệu Ứng Tháng 10
Ở Mỹ, người ta thường nhắc tới thuật ngữ "October effect" vì một số nhà đầu tư lo lắng trong suốt tháng 10 bởi vì những sự kiện thị trường sập sàn trong lịch sử đều diễn ra trong tháng này. Ngày thứ Hai, thứ Ba, thứ Năm đen tối đầu xảy ra vào tháng 10/1929, sau đó là khủng hoảng Great Depression.
Thêm nữa, sự sụp đổ năm 1987 cũng xảy ra vào 19 tháng 10 khi đó chỉ số Dow Jones giảm 22.6% chỉ trong một ngày (thứ Hai đen tối).
Gần đây nhất khủng hoảng năm 2008, thị trường giảm sâu trong tháng 10, như trong ngày 6 tháng 10, 2008 chỉ số Dow Jones sụt giảm thấp nhất kể từ 2004.
Bởi vậy người ta thường lo lắng thị trường chứng khoán sẽ không tiến triển tốt trong tháng 10.
Một điều thú vị là cứ khoảng tháng 10, người dùng Internet lại tìm kiếm trên Google với từ khoá "October effect" nhiều hơn. Có thể phần nhiều là mang tính học thuật.

October effect là thuật ngữ phổ biến trong nhóm Calendar effect, một trong những nghiên cứu của tài chính hành vi (behavioral finance).
Tháng 10 ở Việt Nam
Tuổi của thị trường chứng khoán Việt Nam quá nhỏ để có thể nghiên cứu gì ở đây. Nhưng để ý là nhà đầu tư ở thị trường Việt Nam luôn nghe ngóng thông tin từ Mỹ. Lấy ví dụ Dow Jones, tôi thấy trong tuần đầu Dow thường giảm, sau đó thì phục hồi lại. VN-Index thì lại bám theo.

VN-Index tháng 10/2009
Ngoài ra, tháng 10 ở Việt Nam có một ý nghĩa khác. Tháng mười là thời điểm các công ty niêm yết nộp báo cáo tài chính quý 3. Những báo kết quả kinh doanh ước tính của quý 3 này sẽ là yếu tố phân hóa cổ phiếu.
Thêm nữa, sự sụp đổ năm 1987 cũng xảy ra vào 19 tháng 10 khi đó chỉ số Dow Jones giảm 22.6% chỉ trong một ngày (thứ Hai đen tối).
Gần đây nhất khủng hoảng năm 2008, thị trường giảm sâu trong tháng 10, như trong ngày 6 tháng 10, 2008 chỉ số Dow Jones sụt giảm thấp nhất kể từ 2004.
Bởi vậy người ta thường lo lắng thị trường chứng khoán sẽ không tiến triển tốt trong tháng 10.
Một điều thú vị là cứ khoảng tháng 10, người dùng Internet lại tìm kiếm trên Google với từ khoá "October effect" nhiều hơn. Có thể phần nhiều là mang tính học thuật.
October effect là thuật ngữ phổ biến trong nhóm Calendar effect, một trong những nghiên cứu của tài chính hành vi (behavioral finance).
Tháng 10 ở Việt Nam
Tuổi của thị trường chứng khoán Việt Nam quá nhỏ để có thể nghiên cứu gì ở đây. Nhưng để ý là nhà đầu tư ở thị trường Việt Nam luôn nghe ngóng thông tin từ Mỹ. Lấy ví dụ Dow Jones, tôi thấy trong tuần đầu Dow thường giảm, sau đó thì phục hồi lại. VN-Index thì lại bám theo.

VN-Index tháng 10/2009
Ngoài ra, tháng 10 ở Việt Nam có một ý nghĩa khác. Tháng mười là thời điểm các công ty niêm yết nộp báo cáo tài chính quý 3. Những báo kết quả kinh doanh ước tính của quý 3 này sẽ là yếu tố phân hóa cổ phiếu.
Tuyển Dụng Tài Chính
Tổng hợp các trang tuyển dụng, tìm kiếm việc làm về tài chính. Hy vọng là sẽ hữu ích, chính xác là đỡ tốn thời gian hơn một chút dành cho những người đang tìm việc làm đầu tư, việc làm tài chính nói chung.

Vietnamworks
Kế toán - Tài chính
HCM HN
Ngân hàng - Đầu tư
HCM HN
Careerlink
Kế toán - Tài chính
HCM HN
Ngân hàng - Đầu tư
HCM HN
Kiếm việc | HRVietnam
Kế toán
HCM HN
Chứng khoán
HCM HN
Tài chính - Ngân hàng
HCM HN
VieclamBank
Kế toán - Tài chính
HCM HN
VIPdatabase
Finance Accounting
VietnamHRlink
Kế toán - Ngân hàng - Tài chính
HCM HN
First Alliances
Banking - Finance Accounting - Auditing
Manpower
Management Jobs
TalentNet
Finance
Le & Associates
Accounting - Finance
Vietstock
Tài chính
Faro Vietnam
Accounting/Finance Banking/Invest
Một số trang ít phổ biến hơn không liệt kê ở đây, bạn có thể dùng công cụ tìm kiếm việc làm:
Jseeker.vn (search engine)
Chứng khoán
HCM HN
Ngân hàng Đầu tư
HCM HN
Kế toán - Tài chính
HCM HN
Careerjet.vn (search engine)
Banking/Financial services:
HCM HN
Accounting/Auditing
HCM HN
Việc làm ở một số công ty quản lý quỹ, ngân hàng, kiểm toán, chứng khoán lớn
Quỹ đầu tư tuyển dụng
Dragon Capital
IDG Ventures Vietnam
Indochina Capital
Manulife Fund Management
Mekong Capital
Prudential Fund Management
PXP Asset Management
Saigon Asset Management
Saigon Capital
SSI Asset Management
VietCapital
Vietnam Holding Asset Management
Vietfund Management
Vina Capital
Vietnam Asset Management
VP Capital
PVFC Capital
HSBC Vietnam
ANZ Vietnam
Earnst & Young Vietnam
Deloitte Vietnam
Grant Thornton Vietnam
KPMG Vietnam
PricewaterhouseCoopers Vietnam
Ho Chi Minh Securities Corporation
Mirae Asset Securities Co.
Việc làm thảo luận tại một số diễn đàn
VietAbroader
USGuide
Caohockinhte
Chúc các bạn thành công trong sự nghiệp.

Vietnamworks
Kế toán - Tài chính
HCM HN
Ngân hàng - Đầu tư
HCM HN
Careerlink
Kế toán - Tài chính
HCM HN
Ngân hàng - Đầu tư
HCM HN
Kiếm việc | HRVietnam
Kế toán
HCM HN
Chứng khoán
HCM HN
Tài chính - Ngân hàng
HCM HN
VieclamBank
Kế toán - Tài chính
HCM HN
VIPdatabase
Finance Accounting
VietnamHRlink
Kế toán - Ngân hàng - Tài chính
HCM HN
First Alliances
Banking - Finance Accounting - Auditing
Manpower
Management Jobs
TalentNet
Finance
Le & Associates
Accounting - Finance
Vietstock
Tài chính
Faro Vietnam
Accounting/Finance Banking/Invest
Một số trang ít phổ biến hơn không liệt kê ở đây, bạn có thể dùng công cụ tìm kiếm việc làm:
Jseeker.vn (search engine)
Chứng khoán
HCM HN
Ngân hàng Đầu tư
HCM HN
Kế toán - Tài chính
HCM HN
Careerjet.vn (search engine)
Banking/Financial services:
HCM HN
Accounting/Auditing
HCM HN
Việc làm ở một số công ty quản lý quỹ, ngân hàng, kiểm toán, chứng khoán lớn
Quỹ đầu tư tuyển dụng
Dragon Capital
IDG Ventures Vietnam
Indochina Capital
Manulife Fund Management
Mekong Capital
Prudential Fund Management
PXP Asset Management
Saigon Asset Management
Saigon Capital
SSI Asset Management
VietCapital
Vietnam Holding Asset Management
Vietfund Management
Vina Capital
Vietnam Asset Management
VP Capital
PVFC Capital
HSBC Vietnam
ANZ Vietnam
Earnst & Young Vietnam
Deloitte Vietnam
Grant Thornton Vietnam
KPMG Vietnam
PricewaterhouseCoopers Vietnam
Ho Chi Minh Securities Corporation
Mirae Asset Securities Co.
Việc làm thảo luận tại một số diễn đàn
VietAbroader
USGuide
Caohockinhte
Chúc các bạn thành công trong sự nghiệp.
Điều Kiện Để Nhận Vốn Mạo Hiểm
Ngày càng có nhiều người quan tâm đến đầu tư vốn mạo hiểm, do vậy đối với một nhà khởi nghiệp (entrepreneurs) thì việc hiểu rõ những điều kiện để mình có thể nhận được vốn mạo hiểm từ các công ty quản lý quỹ là rất quan trọng.

Danh sách dưới đây sẽ liệt kê những tiêu chuẩn mà một doanh nghiệp hay một nhóm kinh doanh muốn nhận vốn cần có để có thể trở thành ứng viên cho việc việc cấp vốn đầu tư. Rõ ràng không phải tất cả các doanh nghiệp/lĩnh vực kinh doanh phải thỏa mãn tất cả những yêu cầu, nhưng cần phải đạt phần lớn các tiêu chí:
- Quản lý bộ máy lãnh đạo của venture (đơn vị nhận vốn). Thể hiện bạn xây dựng đội ngũ làm việc đủ tiêu chuẩn, ban tư vấn, và ban giám đốc như thế nào.
- Sản phẩm thể hiện khía cạnh chủ đạo của kinh doanh khách hàng.
- Khách hàng có thể xác định và tiếp cận được.
- Có một thị trường nằm phía sau những khách hàng sử dụng đầu tiên. Tuy vậy, phần lớn các nhà khởi nghiệp lại thiếu nhưng nghiên cứu thị trường cần thiết. Do vậy, khi quỹ hỏi về thị trường thì chỉ trả lời chung chung là "thị trường lớn lắm", nhưng lại không rõ là lớn mức nào. Việc nghiên cứu thị trường không phải dễ dàng nhưng nói chung là hoàn toàn có thể. Cty quản lý quỹ thường tìm đội nhóm có thể chia nhỏ thị trường tổng thể để tách biệt cơ hội riêng của mình, củng cố nhận định của mình cho bên thứ 3 quan sát, và tập trung vào những mục tiêu cụ thể. Phải biết được kích cỡ thị trường, ai là đổi thủ lớn nhất, thị phần của họ là bao nhiêu, xu hướng phát triển của ngành lẫn các đối thủ, những vấn đề nào là lớn nhất mà ngành phải đương đầu. Công ty của bạn sẽ tương thích như thế nào. Hãy chuẩn bị liệt kê ra những vấn đề quan tâm của ngành.
- Khách hàng sẵn sàng thay đổi với những quy trình mua bán định sẵn.
- Hiểu quy trình bán hàng. Ai là người đưa ra quyết định? Những bên nào khác là then chốn trong quá trình đưa ra quyết định? Khi nào là thời điểm chính để bán hàng? Bán hàng theo mối quan hệ hay bán hàng hoá thông thường? Vậy cần biết cách truyền tải những phân tích chi tiết về lợi ích cho khách hàng.
- Có thể hiểu và nhận sự cộng tác mang tính đòn bẩy từ các công sự trong doanh nghiệp.
- Có thể hiểu và truyền tải những bước tiến quan trong trong những kế hoạch tiếp theo.
- Có mô hình kinh doanh khả thi với những biên (margins) trên mức trung bình. Giải thích mô hình tài chính chi tiết.
- Có sự hiều biết thầu đáo về môi trường và xu thế cạnh tranh. Nhiều quỹ yêu cầu kế hoạch kinh doanh phải có ma trận về cạnh tranh, một sự so sánh những khía cạnh liên quan của sản phẩm, dịch vụ tới những gải pháp thay thế từ những nguồn khác.
- Có thể độc quyền về sản phẩm, dịch vụ hoặc tài sản trí tuệ.
- Có một chiến lược đầu tư (gồm cả chiến lược thoái lui).
- Có một lợi thế cạnh tranh dù không công bằng.
- Có thể tiên đoán rằng khoản đầu tư sẽ tăng 10 lần sau 5-10 năm.
- Sử dụng một mô hình kế hoạch chiến lược; mô hình phải thể hiện tầm nhìn và sự thực thi của thị trường. Kế hoạch chiến lược phải có mốc định và thước đo để đo lường những bước tiến đó. Phác hoạ những rủi ro và giải thích tại sao bạn có thể vượt qua.
Ngược lại, một kế hoạch kinh doanh của một đội nhóm hay doanh nghiệp có thể bị lọc bỏ nhanh chóng vì một số nguyên nhân sau:
- Thiếu sự phân chia giá trị với cộng sự.
- Ban điều hành thiếu kinh nghiệm (ví dụ, không có ai đã từng có môt thành công tương tự)
- Kinh doanh theo kiểu ăn theo (me-too business), (ví dụ "tôi chỉ cần 1% thị trường thôi" )
- Đòi quá nhiều vốn, hoặc quá lâu để đưa sản phẩm ra thị trường.
- Thiếu kế hoạch, mô hình kinh doanh.
- Kế hoạch là chỉ cho ra một sản phẩm, chứ không phải là một doanh nghiệp (không thương mại hoá).
- Kế hoạch đầu tư/cấp vốn thiếu thực tế.
- Chưa đánh giá được sự cạnh tranh đúng mức.
- Không hiểu quá trình bán hàng.
- Thiếu trung thực.
Tiếp theo dưới đây là danh sách những nhân tố bổ sung mà các cty cấp vốn (venture capitalists) thường nhắc tới như là yếu tố quan trọng để đầu tư. Tầm quan trọng xếp theo thứ tự từ trên xuống:
- Ban điều hành có khả năng nỗ lực cố gắng hết mình.
- Ban điều hành hoàn toàn nắm rõ/quen thuộc với thị trường.
- Ban điều hành có khả năng lãnh đạo ấn tượng.
- Ban điều hành có thể ước định và xử lý tốt khi có có rủi ro.
- Có phương án cho trường hợp thoái đầu tư.
- Thị trường phát triển mạnh.
- Ban điều hành có một bảng đánh giá theo dõi liên quan đến venture.
- Ban diều hành diễn thuyết tốt.
Nếu bạn có thể hiểu thấu và phát huy từ ba phần trên, thì bạn sẽ có rất nhiều cơ hội để nhận được vốn. Chúc bạn thành công.

Danh sách dưới đây sẽ liệt kê những tiêu chuẩn mà một doanh nghiệp hay một nhóm kinh doanh muốn nhận vốn cần có để có thể trở thành ứng viên cho việc việc cấp vốn đầu tư. Rõ ràng không phải tất cả các doanh nghiệp/lĩnh vực kinh doanh phải thỏa mãn tất cả những yêu cầu, nhưng cần phải đạt phần lớn các tiêu chí:
- Quản lý bộ máy lãnh đạo của venture (đơn vị nhận vốn). Thể hiện bạn xây dựng đội ngũ làm việc đủ tiêu chuẩn, ban tư vấn, và ban giám đốc như thế nào.
- Sản phẩm thể hiện khía cạnh chủ đạo của kinh doanh khách hàng.
- Khách hàng có thể xác định và tiếp cận được.
- Có một thị trường nằm phía sau những khách hàng sử dụng đầu tiên. Tuy vậy, phần lớn các nhà khởi nghiệp lại thiếu nhưng nghiên cứu thị trường cần thiết. Do vậy, khi quỹ hỏi về thị trường thì chỉ trả lời chung chung là "thị trường lớn lắm", nhưng lại không rõ là lớn mức nào. Việc nghiên cứu thị trường không phải dễ dàng nhưng nói chung là hoàn toàn có thể. Cty quản lý quỹ thường tìm đội nhóm có thể chia nhỏ thị trường tổng thể để tách biệt cơ hội riêng của mình, củng cố nhận định của mình cho bên thứ 3 quan sát, và tập trung vào những mục tiêu cụ thể. Phải biết được kích cỡ thị trường, ai là đổi thủ lớn nhất, thị phần của họ là bao nhiêu, xu hướng phát triển của ngành lẫn các đối thủ, những vấn đề nào là lớn nhất mà ngành phải đương đầu. Công ty của bạn sẽ tương thích như thế nào. Hãy chuẩn bị liệt kê ra những vấn đề quan tâm của ngành.
- Khách hàng sẵn sàng thay đổi với những quy trình mua bán định sẵn.
- Hiểu quy trình bán hàng. Ai là người đưa ra quyết định? Những bên nào khác là then chốn trong quá trình đưa ra quyết định? Khi nào là thời điểm chính để bán hàng? Bán hàng theo mối quan hệ hay bán hàng hoá thông thường? Vậy cần biết cách truyền tải những phân tích chi tiết về lợi ích cho khách hàng.
- Có thể hiểu và nhận sự cộng tác mang tính đòn bẩy từ các công sự trong doanh nghiệp.
- Có thể hiểu và truyền tải những bước tiến quan trong trong những kế hoạch tiếp theo.
- Có mô hình kinh doanh khả thi với những biên (margins) trên mức trung bình. Giải thích mô hình tài chính chi tiết.
- Có sự hiều biết thầu đáo về môi trường và xu thế cạnh tranh. Nhiều quỹ yêu cầu kế hoạch kinh doanh phải có ma trận về cạnh tranh, một sự so sánh những khía cạnh liên quan của sản phẩm, dịch vụ tới những gải pháp thay thế từ những nguồn khác.
- Có thể độc quyền về sản phẩm, dịch vụ hoặc tài sản trí tuệ.
- Có một chiến lược đầu tư (gồm cả chiến lược thoái lui).
- Có một lợi thế cạnh tranh dù không công bằng.
- Có thể tiên đoán rằng khoản đầu tư sẽ tăng 10 lần sau 5-10 năm.
- Sử dụng một mô hình kế hoạch chiến lược; mô hình phải thể hiện tầm nhìn và sự thực thi của thị trường. Kế hoạch chiến lược phải có mốc định và thước đo để đo lường những bước tiến đó. Phác hoạ những rủi ro và giải thích tại sao bạn có thể vượt qua.
Ngược lại, một kế hoạch kinh doanh của một đội nhóm hay doanh nghiệp có thể bị lọc bỏ nhanh chóng vì một số nguyên nhân sau:
- Thiếu sự phân chia giá trị với cộng sự.
- Ban điều hành thiếu kinh nghiệm (ví dụ, không có ai đã từng có môt thành công tương tự)
- Kinh doanh theo kiểu ăn theo (me-too business), (ví dụ "tôi chỉ cần 1% thị trường thôi" )
- Đòi quá nhiều vốn, hoặc quá lâu để đưa sản phẩm ra thị trường.
- Thiếu kế hoạch, mô hình kinh doanh.
- Kế hoạch là chỉ cho ra một sản phẩm, chứ không phải là một doanh nghiệp (không thương mại hoá).
- Kế hoạch đầu tư/cấp vốn thiếu thực tế.
- Chưa đánh giá được sự cạnh tranh đúng mức.
- Không hiểu quá trình bán hàng.
- Thiếu trung thực.
Tiếp theo dưới đây là danh sách những nhân tố bổ sung mà các cty cấp vốn (venture capitalists) thường nhắc tới như là yếu tố quan trọng để đầu tư. Tầm quan trọng xếp theo thứ tự từ trên xuống:
- Ban điều hành có khả năng nỗ lực cố gắng hết mình.
- Ban điều hành hoàn toàn nắm rõ/quen thuộc với thị trường.
- Ban điều hành có khả năng lãnh đạo ấn tượng.
- Ban điều hành có thể ước định và xử lý tốt khi có có rủi ro.
- Có phương án cho trường hợp thoái đầu tư.
- Thị trường phát triển mạnh.
- Ban điều hành có một bảng đánh giá theo dõi liên quan đến venture.
- Ban diều hành diễn thuyết tốt.
Nếu bạn có thể hiểu thấu và phát huy từ ba phần trên, thì bạn sẽ có rất nhiều cơ hội để nhận được vốn. Chúc bạn thành công.
Việt Nam và Thị trường mới nổi (Emerging markets)
Theo dõi thông tin về VN-Index tăng điểm trong thời gian gần đây, tôi thấy cũng có ý kiến rằng có thể giữ mốc trong bao lâu. Tôi thử so sánh giữa việt Nam và các thị trường mới nổi (emerging markets)
Việt Nam có phải là thị trường mới nổi không?
Theo cách định nghĩa chung chung thì việt Nam thường được coi là thị trường mới nổi. Những bài báo nước ngoài về Việt Nam cũng xếp Việt Nam vào chung nhóm này. Tuy vậy, trong xếp loại của một vài tổ chức thì không thấy tên Việt Nam trong nhóm nước mới nổi:
- Trong FTSE emerging markets list có 22 nước gồm cả Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines (năm 2010 có thêm United Arab Emirates) nhưng không có Việt Nam.
- Trong MSCI list của MSCI Barra cũng có 22 nước, cũng có Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines nhưng không có Việt Nam.
- Còn danh sách của The Economist có thêm 3 nước nữa nhưng không phải Việt Nam.
Gross National Income (GNI) của Việt Nam năm 2007 là $790.0 được World Bank xếp vào nhóm middle income, nhưng chỉ nhỉnh hơn nhóm low-income một chút. Có lẽ vì vậy mà người ta chưa xem xét đến Việt Nam.
Cũng nói thêm là một số nước hiện còn trong nhóm emerging markets như South Korea, China, India, Taiwan đã khá phát triển và người ta đang nghĩ gỡ bỏ thuật ngữ "emerging markets".
VN-Index và MSCI Emerging Markets Index
VN-Index thể hiện performance của thị trường chứng khoán Việt Nam. Còn MSCI Emerging Markets Index đo performance của các thị trường mới nổi.

Source: Bloomberg.
Nếu ta nhìn biểu đố thì sẽ thấy ở thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua thời kỳ quá nóng, thèo cách nói của Alan Greenspan là "irrational exuberance". Nếu so với MSCI Emerging Markets Index thì từ đầu năm 2007 đến 2008, VN-Index đã vượt quá mức cho đến khi sụt giảm cùng với khủng hoảng kinh tế.
Biều đồ lấy mốc 10/2004, theo đó thì hiện tại VN-Index hơi nóng một chút, nhưng nếu lấy mốc 10/2006 lúc thị trường chưa quá sốt thì hiện tại VN-Index cũng đang theo sát MSCI. Theo tôi thì perfomance như vậy là không bất thường.
Việt Nam có phải là thị trường mới nổi không?
Theo cách định nghĩa chung chung thì việt Nam thường được coi là thị trường mới nổi. Những bài báo nước ngoài về Việt Nam cũng xếp Việt Nam vào chung nhóm này. Tuy vậy, trong xếp loại của một vài tổ chức thì không thấy tên Việt Nam trong nhóm nước mới nổi:
- Trong FTSE emerging markets list có 22 nước gồm cả Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines (năm 2010 có thêm United Arab Emirates) nhưng không có Việt Nam.
- Trong MSCI list của MSCI Barra cũng có 22 nước, cũng có Thailand, Indonesia, Malaysia, Philippines nhưng không có Việt Nam.
- Còn danh sách của The Economist có thêm 3 nước nữa nhưng không phải Việt Nam.
Gross National Income (GNI) của Việt Nam năm 2007 là $790.0 được World Bank xếp vào nhóm middle income, nhưng chỉ nhỉnh hơn nhóm low-income một chút. Có lẽ vì vậy mà người ta chưa xem xét đến Việt Nam.
Cũng nói thêm là một số nước hiện còn trong nhóm emerging markets như South Korea, China, India, Taiwan đã khá phát triển và người ta đang nghĩ gỡ bỏ thuật ngữ "emerging markets".
VN-Index và MSCI Emerging Markets Index
VN-Index thể hiện performance của thị trường chứng khoán Việt Nam. Còn MSCI Emerging Markets Index đo performance của các thị trường mới nổi.

Source: Bloomberg.
Nếu ta nhìn biểu đố thì sẽ thấy ở thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua thời kỳ quá nóng, thèo cách nói của Alan Greenspan là "irrational exuberance". Nếu so với MSCI Emerging Markets Index thì từ đầu năm 2007 đến 2008, VN-Index đã vượt quá mức cho đến khi sụt giảm cùng với khủng hoảng kinh tế.
Biều đồ lấy mốc 10/2004, theo đó thì hiện tại VN-Index hơi nóng một chút, nhưng nếu lấy mốc 10/2006 lúc thị trường chưa quá sốt thì hiện tại VN-Index cũng đang theo sát MSCI. Theo tôi thì perfomance như vậy là không bất thường.
Quỹ Exchange Traded Fund (ETFs)
Còn nhớ tháng 8, một quỹ ETF Market Vectors Vietnam Index(MVVNM) lần đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ (NYSE Arca).
Vietnam Holding
Vietnam Equity Holding
Indochina Capital Vietnam Hldgs
Vinacapital Vietnam Opp. Fund
DWS Vietnam Fund
...
Lợi ích của quỹ ETF:
- Sử dụng hiệu quả phương pháp đa dạng hoá danh mục đầu tư
Trong trường hợp của Market Vectors Vietnam, Van Eck global, công ty quản lý của quỹ này, đã mua 32 cổ phiếu các loại (tính đến 13 tháng 10).
10 cổ phiếu chính:

Xem tất cả
Để ý rằng một vài cổ phiểu trong portfolio không phải là cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Việc mua bán cũng dễ dàng như mua cổ phiếu
- Một vài quỹ biến động theo Index nên quản trị rủi ro dễ dàng hơn
Theo quy tắc của MV VNM thì tiểu chuẩn chọn vào quỹ bao gồm a) cty có nhà xưởng hoặc được niêm yết chính ở Việt Nam b) tạo ra ít nhất 50% lợi nhuận ở Việt Nam c) vị thế quan trọng hoặc thống trị ở Việt Nam.
- Danh mục cầu thành rõ ràng, và thông tin công bố mọi lúc
- Ít chi phí điều hành
- Ở một số nơi, lợi nhuận đánh thuế thấp.
Và điểm bất lợi:
- Một vài nước chỉ có một số ít các index (so với Mỹ). Ở Việt Nam, hiện chỉ có 3 Index là VN Index, HNX Index, và UpCom Index. Ngoài ra, tôi để ý thấy CK Biển Việt có phát triển một bộ indexes (Vietnam Securities Indexes - tên cũ CBV Index)
- Khả năng cho phép giao dịch trong ngày (ở thị trường nước ngoài) không có ý nghĩa lắm cho nhà đầu tư dài hạn.
- ETFs có lượng giao dịch thấp thì có chênh lêch đặt giá mua bán (bid ask spread) cao.
- Nhà đầu tư lớn có thể chọn cách đầu tư trực tiếp thay vì thông qua ETFs để giảm chi phí hay thuế.
- Một điểm nưa tôi thấy từ vụ các nhà đầu tư buộc quỹ của Indochina Capital thoái vốn sớm: quỹ có thể giải thể sớm khi nhà đầ tư nắm được đủ lượng chứng chỉ quỹ bỏ phiếu.
Cách chọn mua quỹ ETFs
- Tỉ lệ chi phí: Phần trăm lợi nhuận của quỹ sẽ bị chia bớt bởi phí điều hành. Một lời khuyên là chọn quỹ có phí điều hành không quá 1%. Dưới hoặc gần 1% là hợp lí cho loại quỹ này.
- Được xếp hạng cao: Những công ty như Morningstar thường xếp hạng các quỹ. Vì thế dĩ nhiên nên loại bỏ các quỹ đánh giá thấp.
- Thời gian kinh nghiệm quản lý của giám đốc quỹ: Một quỹ ETF thì không quá quan trọng vấn đề này. Tuy vậy đây cũng là thước đo đánh giá sự ổn định của quỹ. Vậy nên loại quỹ nào có kinh nghiệm quá thấp như dưới 1 năm.
- Thành tích trước đây: Xem lại hiệu năng của quỹ so với index trong vòng 5 năm. Nếu quỹ bám theo Index tốt và cao hơn một chút là tốt. Nếu lợi nhuận quỹ nhỏ hơn cả index thì nên loại bỏ ngay.
- So sánh với các quỹ có danh mục tương tự. Nếu quỹ lớn hơn trung bình của nhóm thì đó là khoản đầu tư tốt.
Trên đây là một vài kiến thức cơ bản.
Quỹ Exchange Traded Funds (ETF) là loại quỹ đặc biệt đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu để có thể mô phỏng theo diễn biến thị trường của một loại index nào đó.Trước đó có nhiều quỹ của Việt Nam niếm yết ở thị trường nước ngoài (London, Hamburg) hoạt động gần giống như ETFs nhưng không được xếp vào nhóm này như:
Vietnam Holding
Vietnam Equity Holding
Indochina Capital Vietnam Hldgs
Vinacapital Vietnam Opp. Fund
DWS Vietnam Fund
...
Lợi ích của quỹ ETF:
- Sử dụng hiệu quả phương pháp đa dạng hoá danh mục đầu tư
Trong trường hợp của Market Vectors Vietnam, Van Eck global, công ty quản lý của quỹ này, đã mua 32 cổ phiếu các loại (tính đến 13 tháng 10).
10 cổ phiếu chính:

Xem tất cả
Để ý rằng một vài cổ phiểu trong portfolio không phải là cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Việc mua bán cũng dễ dàng như mua cổ phiếu
- Một vài quỹ biến động theo Index nên quản trị rủi ro dễ dàng hơn
Theo quy tắc của MV VNM thì tiểu chuẩn chọn vào quỹ bao gồm a) cty có nhà xưởng hoặc được niêm yết chính ở Việt Nam b) tạo ra ít nhất 50% lợi nhuận ở Việt Nam c) vị thế quan trọng hoặc thống trị ở Việt Nam.
- Danh mục cầu thành rõ ràng, và thông tin công bố mọi lúc
- Ít chi phí điều hành
- Ở một số nơi, lợi nhuận đánh thuế thấp.
Và điểm bất lợi:
- Một vài nước chỉ có một số ít các index (so với Mỹ). Ở Việt Nam, hiện chỉ có 3 Index là VN Index, HNX Index, và UpCom Index. Ngoài ra, tôi để ý thấy CK Biển Việt có phát triển một bộ indexes (Vietnam Securities Indexes - tên cũ CBV Index)
- Khả năng cho phép giao dịch trong ngày (ở thị trường nước ngoài) không có ý nghĩa lắm cho nhà đầu tư dài hạn.
- ETFs có lượng giao dịch thấp thì có chênh lêch đặt giá mua bán (bid ask spread) cao.
- Nhà đầu tư lớn có thể chọn cách đầu tư trực tiếp thay vì thông qua ETFs để giảm chi phí hay thuế.
- Một điểm nưa tôi thấy từ vụ các nhà đầu tư buộc quỹ của Indochina Capital thoái vốn sớm: quỹ có thể giải thể sớm khi nhà đầ tư nắm được đủ lượng chứng chỉ quỹ bỏ phiếu.
Cách chọn mua quỹ ETFs
- Tỉ lệ chi phí: Phần trăm lợi nhuận của quỹ sẽ bị chia bớt bởi phí điều hành. Một lời khuyên là chọn quỹ có phí điều hành không quá 1%. Dưới hoặc gần 1% là hợp lí cho loại quỹ này.
- Được xếp hạng cao: Những công ty như Morningstar thường xếp hạng các quỹ. Vì thế dĩ nhiên nên loại bỏ các quỹ đánh giá thấp.
- Thời gian kinh nghiệm quản lý của giám đốc quỹ: Một quỹ ETF thì không quá quan trọng vấn đề này. Tuy vậy đây cũng là thước đo đánh giá sự ổn định của quỹ. Vậy nên loại quỹ nào có kinh nghiệm quá thấp như dưới 1 năm.
- Thành tích trước đây: Xem lại hiệu năng của quỹ so với index trong vòng 5 năm. Nếu quỹ bám theo Index tốt và cao hơn một chút là tốt. Nếu lợi nhuận quỹ nhỏ hơn cả index thì nên loại bỏ ngay.
- So sánh với các quỹ có danh mục tương tự. Nếu quỹ lớn hơn trung bình của nhóm thì đó là khoản đầu tư tốt.
Trên đây là một vài kiến thức cơ bản.
AIG thoái vốn?
The American International Group, tập đoàn bảo hiểm ọp ẹp đã quyết định bán bộ phận bảo hiểm nhân thọ ở Taiwan cho đối tác ở Hongkong. Đây là lần thoái vốn lớn nhất trong series thoái vốn kể từ sau cú sốc suýt phá sản 2008 vì mortgage-backed securities.
AIG sẽ bán 97.6% cổ phần của Nan Shan, một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ ở Taiwan, cho đối tác Primus Financial Holdings, một công ty đầu tư ở Hongkong.
Trước đó, AIG đã bán bộ phận tư vấn đầu tư và quản lý tài sản cho Pacific Century Group, một cty đầu tư cũng ở Hong Kong, giá khoảng $500 million; bán bộ phận đầu tư năng lượng và cơ sở hạ tầng được hơn $1.9 billion; thoái vốn ở 21st Century Insurance Group, một công ty bảo hiểm ô tô, mức giá $1.9 billion.
Điều này đặt ra câu hỏi là AIG sẽ thoái vốn ở Việt Nam hay không. Trước đây khi AIG nộp đơn bảo lãnh phá sản, tổng giám đốc AIG ở Việt Nam luôn khẳng định là AIG Vietnam độc lập và không ảnh hưởng gì. Tuy nhiên, với nhưng động thái thoái vốn trên thì việc AIG rút vốn cũng dễ hiểu, vì sau khi chính phủ Mỹ ứng cứu $85 billion thì AIG buộc phải cắt giảm chi phí, tinh giảm nhân lực, và bán các bộ phận hoạt động không hiệu quả. Vấn để ở Việt Nam sẽ phụ thuộc AIG hoạt động ở Việt Nam như thế nào. AIG chỉ mới thực sự quay lại Việt Nam từ sau 2005, nên khả năng sinh lợi có thể chưa đạt mức yêu cầu. AIG Vietnam là một bộ phận của AIG Southeast Asia nên quyêt định thoái vốn hay không còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác.
AIG sẽ bán 97.6% cổ phần của Nan Shan, một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ ở Taiwan, cho đối tác Primus Financial Holdings, một công ty đầu tư ở Hongkong.
Trước đó, AIG đã bán bộ phận tư vấn đầu tư và quản lý tài sản cho Pacific Century Group, một cty đầu tư cũng ở Hong Kong, giá khoảng $500 million; bán bộ phận đầu tư năng lượng và cơ sở hạ tầng được hơn $1.9 billion; thoái vốn ở 21st Century Insurance Group, một công ty bảo hiểm ô tô, mức giá $1.9 billion.
Điều này đặt ra câu hỏi là AIG sẽ thoái vốn ở Việt Nam hay không. Trước đây khi AIG nộp đơn bảo lãnh phá sản, tổng giám đốc AIG ở Việt Nam luôn khẳng định là AIG Vietnam độc lập và không ảnh hưởng gì. Tuy nhiên, với nhưng động thái thoái vốn trên thì việc AIG rút vốn cũng dễ hiểu, vì sau khi chính phủ Mỹ ứng cứu $85 billion thì AIG buộc phải cắt giảm chi phí, tinh giảm nhân lực, và bán các bộ phận hoạt động không hiệu quả. Vấn để ở Việt Nam sẽ phụ thuộc AIG hoạt động ở Việt Nam như thế nào. AIG chỉ mới thực sự quay lại Việt Nam từ sau 2005, nên khả năng sinh lợi có thể chưa đạt mức yêu cầu. AIG Vietnam là một bộ phận của AIG Southeast Asia nên quyêt định thoái vốn hay không còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác.
Chứng Chỉ CMT - Chartered Market Technician
Chartered Market Technician (CMT) là một chứng chỉ về phân tích kỹ thuật do Market Technicians Association (MTA), Inc. khởi xướng. So với chứng chỉ Chartered Financial Analyst (CFA), thì CMT chỉ gói gọn trong phân tích kỹ thuật và hai chứng chỉ này độc lập với nhau vì CFA chỉ không đi sâu vào phân tích kỹ thuật. Về mức độ danh tiếng thì CFA nổi trội vì có bề dày lịch sử, và bao trùm lên nhiều lĩnh vực. Mặc dù vậy, CMT đi sâu vào phân tích kỹ thuật nên luôn được đánh giá cao. Để trờ thành một analyst chuyên nghiệp trong các tập đòan lớn như ở Mỹ thì về giáo dục, một analyst thường phải có chứng chỉ CFA, MBA hoặc CMT.
Về cách thức hoạt động thì cũng khá giống như chương trình CFA. Học viên sẽ đóng phí, thi 3 bài thi ứng với 3 level. Học viên cần đạt kinh nghiệm cần thiết để cấp designation (khi đó có thể ghi chữ CMT sau tên mình), và học viên sẽ đóng phi duy trì hàng năm.
Mức phí (hiện tại):
Đăng kí làm affiliate: $250
Level 1: $250
Level 2: $450
Level 3: $450
So với CFA, thì mức phí này nhẹ hơn nhiều. Nhận thanh toán online qua Mastercard,Visa và American Express ngay khi đăng kí.
Phí duy trì hàng năm: $300
Nội dung và thời gian:
Học toàn về phân tích kỹ thuật, lý thuyết Dow, lý thuyết Fibonacci, lý thuyết Elliott Wave, biểu đồ đủ loại kể cả hình nến Nhật Bản,...về cổ phiếu, trái phiếu, ngoại hối forex, các giao dịch futures...Một điểm giống nhau với CFA là CMT cũng đề cao vai trò của quy tắc đạo đức (Code Of Ethnics), học viên thường phải đạt trên 70% ở những câu hỏi về vấn đề này.
Level 1: 120 câu trắc nghiệm, 2 tiếng
Level 2: 150 câu trắc nghiệm, 4 tiếng
Level 3: viết bài luận, 4 tiếng
Địa điểm thi:
Trong brochure của MTA thì có 300 điểm thi toàn cầu, nhưng không thấy ghi rõ có test center nào ở Việt Nam (hình như ở Việt Nam không có, và có thể phải thi ở India, Malaysia, hay Japan (?)).
Điểm đậu:
Khoảng 70%.
Tài liệu học CMT:
MTA quy định những phần khác nhau ứng với mỗi level. MTA không in sách (trừ 1 trang về Code & Ethics) mà yêu cầu học những chương khác nhau của một số cuốn sách tùy level:
Ví dụ: Level 1/2010:
- Technical Analysis of Stock Trends, 9th Edition, của Edwards, Robert D. and Magee, John.
- Technical Analysis The Complete Resource for Financial Market Technicians của Kirkpatrick, Charles D. and Dahlquist, Julie R
- Technical Analysis Explained, 4th Edition của Pring, Martin J.
Xem chi tiết
Thời gian học:
Cho mỗi level là 100 giờ, 140 giờ, và 160 giờ.
Trang chủ: http://www.mta.org
CMT là chương trình phân tích kỹ thuật được chuẩn hóa nên thu hút được một số lượng đáng kể nhà các analyst thiên về kỹ thuật.
gium5bv9y7
Về cách thức hoạt động thì cũng khá giống như chương trình CFA. Học viên sẽ đóng phí, thi 3 bài thi ứng với 3 level. Học viên cần đạt kinh nghiệm cần thiết để cấp designation (khi đó có thể ghi chữ CMT sau tên mình), và học viên sẽ đóng phi duy trì hàng năm.
Mức phí (hiện tại):
Đăng kí làm affiliate: $250
Level 1: $250
Level 2: $450
Level 3: $450
So với CFA, thì mức phí này nhẹ hơn nhiều. Nhận thanh toán online qua Mastercard,Visa và American Express ngay khi đăng kí.
Phí duy trì hàng năm: $300
Nội dung và thời gian:
Học toàn về phân tích kỹ thuật, lý thuyết Dow, lý thuyết Fibonacci, lý thuyết Elliott Wave, biểu đồ đủ loại kể cả hình nến Nhật Bản,...về cổ phiếu, trái phiếu, ngoại hối forex, các giao dịch futures...Một điểm giống nhau với CFA là CMT cũng đề cao vai trò của quy tắc đạo đức (Code Of Ethnics), học viên thường phải đạt trên 70% ở những câu hỏi về vấn đề này.
Level 1: 120 câu trắc nghiệm, 2 tiếng
Level 2: 150 câu trắc nghiệm, 4 tiếng
Level 3: viết bài luận, 4 tiếng
Địa điểm thi:
Trong brochure của MTA thì có 300 điểm thi toàn cầu, nhưng không thấy ghi rõ có test center nào ở Việt Nam (hình như ở Việt Nam không có, và có thể phải thi ở India, Malaysia, hay Japan (?)).
Điểm đậu:
Khoảng 70%.
Tài liệu học CMT:
MTA quy định những phần khác nhau ứng với mỗi level. MTA không in sách (trừ 1 trang về Code & Ethics) mà yêu cầu học những chương khác nhau của một số cuốn sách tùy level:
Ví dụ: Level 1/2010:
- Technical Analysis of Stock Trends, 9th Edition, của Edwards, Robert D. and Magee, John.
- Technical Analysis The Complete Resource for Financial Market Technicians của Kirkpatrick, Charles D. and Dahlquist, Julie R
- Technical Analysis Explained, 4th Edition của Pring, Martin J.
Xem chi tiết
Thời gian học:
Cho mỗi level là 100 giờ, 140 giờ, và 160 giờ.
Trang chủ: http://www.mta.org
CMT là chương trình phân tích kỹ thuật được chuẩn hóa nên thu hút được một số lượng đáng kể nhà các analyst thiên về kỹ thuật.
gium5bv9y7
Chiến Lược Mua và Nắm Giữ (Buy And Hold) Mất Sự Tin Cậy
Trong khi nhiều nhà tư vấn tài chính (financial advisers) vẫn tiếp tục với chiến lược đầu tư mua và nắm giữ (buy-and-hold) thì số khác tỏ vẻ nghi ngờ sự hiểu quả của cách đầu tư này.

Theo cuộc điều tra 2009 Industry Attitudes survey của InvestmentNews về các nhà tư vấn tài chính cho thấy một xu hướng thay đổi trong việc lựa chọn chiến lược đầu tư.
Survey này có trên 700 người trả lời:
12.5% không còn tin vào đầu tư kiểu nắm và giữ;
49.6% nói rằng họ sẽ nhanh chân hơn để thay đổi wholesale portfolio với những điều kiện nhất định;
37.8% nói rằng họ sẽ sẵn sàng hơn để bán chứng khoán khi chúng đạt được mức giá mong muốn.
Khi hỏi về việc thị trường đi xuống có ảnh hưởng đến sản phẩm, dịch vụ tư vấn:
Chỉ 14% nói sẽ bảo thủ hơn;
Chỉ 12% nói sẽ đơn giảm hóa các chiến lược với những khoản đầu tư plain-vanilla (tạm gọi đầu tư đơn thuần);
80% thì nói kinh tế suy thoái làm họ trở thành tư vấn tốt hơn.
Có thể thấy các nhà tư vấn đang chuyển hướng sang đầu tư năng động hơn.
Những tranh cãi về chiến lược đầu tư mua và năm giữ không phải giờ mới bắt đầu. Warren Buffett là nhà đầu tư vĩ đại thành công với chiến thuật nắm và giữ. Song, trong năm 2008 ông cũng lỗ khoảng 9.6 tỉ USD theo giá trị sổ sách (thông tin Buffett tiết lộ trong annual report là giá trị của Berkshire giảm 9.6%). 2008 là năm tồi tệ cho cả giới tài chính nên dễ hiểu điều này ảnh hưởng đến tấm lý hoài nghi về sự hiệu quả của chiến thuật mua và nắm giữ.
Tôi thì cho rằng không phải ai cũng hoàn hảo. Ngay cả việc mua cổ phiếu của Goldman Sachs thì năm 2009 tính ra cũng đã mang lại lợi nhuận cho Buffett.
Mặc dù vậy, tôi vẫn thích một kiểu đầu tư năng động hơn, vì dù sao buy-and-hold cũng là đầu tư thụ động. Thụ động quá thì sẽ bất lợi khi thị trường đi xuống, và khi lên nhanh quá thì lại dẫn đến tham lam không thoát kịp khi thị trường điều chỉnh. Quan trọng vẫn là xác định thời điểm.
Một thông tin khác từ Financial Times, tỉ phú George Soros cũng sẽ đầu tư 1 tỷ USD vào công nghệ xanh, dĩ nhiên là cái nhìn dài hạn. Trước đây, Warren Buffett và Bill Gates cũng đã đầu tư vào các công ty xử lý chất thải.

Theo cuộc điều tra 2009 Industry Attitudes survey của InvestmentNews về các nhà tư vấn tài chính cho thấy một xu hướng thay đổi trong việc lựa chọn chiến lược đầu tư.
Survey này có trên 700 người trả lời:
12.5% không còn tin vào đầu tư kiểu nắm và giữ;
49.6% nói rằng họ sẽ nhanh chân hơn để thay đổi wholesale portfolio với những điều kiện nhất định;
37.8% nói rằng họ sẽ sẵn sàng hơn để bán chứng khoán khi chúng đạt được mức giá mong muốn.
Khi hỏi về việc thị trường đi xuống có ảnh hưởng đến sản phẩm, dịch vụ tư vấn:
Chỉ 14% nói sẽ bảo thủ hơn;
Chỉ 12% nói sẽ đơn giảm hóa các chiến lược với những khoản đầu tư plain-vanilla (tạm gọi đầu tư đơn thuần);
80% thì nói kinh tế suy thoái làm họ trở thành tư vấn tốt hơn.
Có thể thấy các nhà tư vấn đang chuyển hướng sang đầu tư năng động hơn.
Những tranh cãi về chiến lược đầu tư mua và năm giữ không phải giờ mới bắt đầu. Warren Buffett là nhà đầu tư vĩ đại thành công với chiến thuật nắm và giữ. Song, trong năm 2008 ông cũng lỗ khoảng 9.6 tỉ USD theo giá trị sổ sách (thông tin Buffett tiết lộ trong annual report là giá trị của Berkshire giảm 9.6%). 2008 là năm tồi tệ cho cả giới tài chính nên dễ hiểu điều này ảnh hưởng đến tấm lý hoài nghi về sự hiệu quả của chiến thuật mua và nắm giữ.
Tôi thì cho rằng không phải ai cũng hoàn hảo. Ngay cả việc mua cổ phiếu của Goldman Sachs thì năm 2009 tính ra cũng đã mang lại lợi nhuận cho Buffett.
Mặc dù vậy, tôi vẫn thích một kiểu đầu tư năng động hơn, vì dù sao buy-and-hold cũng là đầu tư thụ động. Thụ động quá thì sẽ bất lợi khi thị trường đi xuống, và khi lên nhanh quá thì lại dẫn đến tham lam không thoát kịp khi thị trường điều chỉnh. Quan trọng vẫn là xác định thời điểm.
Một thông tin khác từ Financial Times, tỉ phú George Soros cũng sẽ đầu tư 1 tỷ USD vào công nghệ xanh, dĩ nhiên là cái nhìn dài hạn. Trước đây, Warren Buffett và Bill Gates cũng đã đầu tư vào các công ty xử lý chất thải.
Men's Underwear Index
Năm 2009, kinh tế thế giới suy giảm, và tiêu dùng cá nhân cũng giảm theo. Và dĩ nhiên doanh số bán quần lót nam cũng sẽ giảm theo. Đó là lý do mà những người như Alan Greenspan tin vào chỉ số Men's Underwear Index (chỉ số quần lót nam), một chỉ số không được công nhận chính thức.
Men's Underwear Index, Investopedia ghi chú:
Mintel bắt đầu tính chỉ số này từ năm 2003, và dự đoán 2009 sẽ giảm 2.3%.

Vậy thì theo như chỉ số Men's Underwear Index này thì khi nào bạn mặc quần lót mới thì đó là lúc nền kinh tế đang hồi phục :D
Men's Underwear Index, Investopedia ghi chú:
An unconventional measure of how well the economy is doing based on sales of men's underwear. The reasoning behind this measure assumes that men view underwear as a necessity (not a luxury item), so sales of this product should be steady - except during severe economic downturns, when men will wait longer to buy new underwear. The notable decrease in underwear sales is said to reflect the poor overall state of the economy. Conversely, when underwear sales pick up, the economy is considered to be improving.Quần lót nam không phải là hàng xa xỉ mà là nhu yếu phẩm, nên lượng hàng bán ra sẽ ổn định, ngoại trừ khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái. Nghe có vẻ hơi mắc cười, nhưng có vẻ chỉ số của hãng nghiên cứu Mintel cũng có ý nghĩa (xếp vào nhóm lagging indicators), dù không chứa nhiều thông tin mang tính qualitative như các chỉ số kinh tế khác.
Mintel bắt đầu tính chỉ số này từ năm 2003, và dự đoán 2009 sẽ giảm 2.3%.

ALL UNDERWEAR
2007 retail sales: $4.73 billion (up 3.7 percent from year before)
2008 retail sales: $4.87 billion (up 2.9 percent from the prior year).
2009 forecast: $4.76 billion (down 2.3 percent)
BRIEFS
2007 sales: $1.21 billion (down 3.6 percent)
2008 estimated: $1.17 billion (down 3.0 percent)
2009 forecast: $1.18 billion (up 0.6 percent)
2010 forecast: $1.17 billion (down 1.0 percent)
BOXERS
2007 sales $1.16 billion (up 9.7 percent)
2008 estimates: $1.25 billion (up 7.1 percent)
2009 forecast $1.09 billion (down 3.5 percent)
Vậy thì theo như chỉ số Men's Underwear Index này thì khi nào bạn mặc quần lót mới thì đó là lúc nền kinh tế đang hồi phục :D
Ảnh Hưởng Về Kinh Tế Của Thiên Tai
Nếu bạn coi thông thông tin thời sự những ngày gần đây sẽ để ý đến bão Ketsana hay động đất. Những thảm họa tự nhiên như vậy không chỉ gây ra những tác động trực tiếp mà cả gián tiếp lên nền kinh tế.
Những thiệt hại về người và của đó là những tác động trực tiếp. Những con số về thiệt hại về nhân mạng, nhà cửa, đường xá đó những gì dễ nhận biết nhất. Tuy nhiên, ai cũng hiểu là hậu quả không chỉ dừng tại đó.
Những tác động gián tiếp là: Người không may chết, nguồn nhân lực giảm; người bị bệnh tật, bị thương sẽ tăng chi phí về y tế; khu dân cư bị hư hại, dẫn đến chi phí tăng về nhà ở; nhà xưởng, máy móc trang thiết bị, kho bãi bị hư hỏng thì sãn lượng công nghiệp giảm; đường xá, thủy lợi, cầu, đập hư hại thì dẫn đến giảm phân phối, chi phí tăng; ruộng, vườn ao hồ ngập lụt hay hạn hán sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp. Những tác động gián tiếp này làm cung cầu mất cân đối, giá cá sẽ tăng chóng mặt. Điều này dễ hiểu tại sao Hà Nội ngập lụt thì giá rau xanh tăng đột biến.
Nhìn ở góc độ vĩ mô, những ngành chịu thiệt hại bao gồm luôn cả bảo hiểm và ngân hàng. Các công ty bảo hiểm sẽ phải chi trả những khoản tiền lớn để bồi thường, trong khi ngân hàng sẽ phải đối mặt với tình trạng nợ xấu.
Ngoài những tác hại về tài chính, những thảm họa trên cũng ảnh hưởng đến những vấn đề về xã hội như lòng tin của dân chúng, hay những vấn đề về chăm sóc y tế, sức khỏe tinh thần, giáo dục, an ninh xã hội, cũng như về chính sách của nhà nước.
Tôi muốn viết tiếp dưới cái nhìn của nhà đầu tư khi thảm họa xảy ra. Lấy ví dụ, một trận bão kèm lũ quét và ngập lụt. Một vài lĩnh vực sẽ bị ảnh hưởng:
- Trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị: trong một số trường hợp, thảm họa sẽ buộc chính phủ phải chi tiền khắc phục, do đó một số trái phiếu đáo hạn trong thời điểm này sẽ gặp trục trặc.
- Bảo hiểm: các công ty bảo hiểm là những người phải thiệt hại nặng khi có thảm họa. Một biện pháp các công ty bảo hiểm tránh rủi ro là công ty bảo hiểm phát hành catastrophe bonds, một loại trái phiếu có floating rate. Do đó, nếu có ý định đầu tư vào cty bảo hiểm phải coi kỹ thông tin...và xử lý nhanh.
- Nhóm cty bán hàng thực phẩm: nếu từng nghe chuyện dân gian Thạch Sùng trữ gạo để bán sau khi lũ lụt thì có thể hiểu rằng các công ty bán thực phẩm chỉ kiếm lời nhiều khi có dự trữ hàng hóa lớn. Nguồn cung ít thì đẩy giá lên cao. Luật chơi thì công bằng, nhưng đầu vào cũng cao thì không hẳn có lợi nhuận đột biến.
- Xây dựng, vật liệu xây dựng: dễ hiểu là nhu cầu xây dựng, sửa nhà, xưởng, cầu đường sẽ tăng, nhưng chú ý là nhu cầu sẽ bão hòa đến một mốc. Biết được các công ty có nhiều hợp đồng là lợi thế. thời gian. Quan trọng là xác định tốt thời điểm.
- Y tế: Để ý là các hãng dược phẩm lớn trên thế giới kiếm được khá nhiều tiền khi khi có dịch cúm H5N1, một thiên tai như lũ lụt thì sẽ đẩy nhu cầu về một vài loại thuốc. Vậy cần xác định các công ty dược phẩm bán cái gì.
- Các cty có nguốn nguyên liệu từ vùng bị thảm họa: Giá nguyên liệu tăng, nhưng chú ý là chỉ vùng này tăng, vùng khác cũng có thể bám theo mà tăng nhưng nhìn chung thì giá nguyên liệu tăng sẽ tăng chi phí, lãi sụt. Do vậy, hiểu công ty mình đầu tư thì có lợi thế hơn.
- Ngân hàng: default rate là cái họ lo sợ. Vì thề nên nắm được tỉ trọng của vùng bị thảm họa trong cơ cấu của ngân hàng là điều tốt. Mặc dù vậy, thường tỉ trọng các vùng này thấp.
- Bất động sản: tôi nghĩ đầu tư bất động sản cần thời gian, trong thời điểm này thì đó là cơ hội mua vào.
Chỉ là muốn viết một vài ý (và cần phát triển thêm).
Tôi không muốn bị coi là kẻ trục lợi, hám tiền, nên tổng hợp một vài lời khuyên khi gặp một thảm họa.
Những việc cần làm sau thảm họa:
Bảo vệ bản thân và những người khác
* Chờ có thông báo rõ ràng trước khi rời khỏi nhà, nơi trú ẩn
* Kiểm tra những người xung quanh xem có bị thương không. Tự sơ cứu và kêu gọi giúp đỡ nếu cần thiết.
* Cảnh giác với những trụ điện rơi đổ.
* Hạn chế gọi điện tới những số điện thoại khẩn cấp.
* Tránh cầu gãy hoặc xuống cấp.
* Kiểm tra ấm nước, và các thiết bị. Nên kiểm tra bằng đèn pin thay vì diêm hay nến.
Nếu ngửi thấy mùi khí gas thì mở cửa sổ, tắt valve mở. Không bật đèn và các thiết bị cho đến khi khí đã bay, và đã kiềm tra hệt thống điện. Nếu dây điện rò rỉ thì tắt nguốn.
* Dùng nước dự phòng hoặc nước vòi đun sôi cho đến khi được thông báo nguồn nước an toàn.
* Thức ăn mà do nước lụ mang tới có thể nhiếm khuẩn, nên loại bỏ.
* Kiểm tra thực phẩm đông lạnh có bị hư hại. Phân ra thức ăn bị nhiễm bẩn hay bị hư.
* Những hố ga, trụ điện đổ, chỗ ngập lụt thì nguy hiểm. Ngập lụt thì tránh sông suối.
Bảo vệ nhà cửa và tài sản cá nhân:
* Tìm xem thiệt hại, gồm cả hư mái nhà, có thể bị mưa dột. (Không trèo lên mái)
* Nếu nguồn điện bị cắt, rút bỏ tất cả phích căm để tránh phóng điện, điện tăng đột biến gây hư hỏng đồ đạc gồm cả TV, đầu máy, PC...
* Làm những bước hợp lí để tránh hư hại thêm: sửa mái nhà, thay kính, vá lỗ hổng, bịt ống rò rỉ.
* Lau nước bẩn ở sàn và thảm.
* Xem xem cái nào cần rửa, lau chùi, cái nào cần sửa.
* Phơi quần áo, đồ dùng cang sớm càng tốt. Giữ hóa đơn vì chúng có thể được trả bởi bảo hiểm.
* Trước khi vứt bỏ món đồ nào thì xem chúng có được bảo hiểm hay không.
* Lập danh sách những gì cần lau chùi, giặt rửa, thời gian để làm, lập danh sách những món đồ bị hư hại, và các thông tin kèm theo.
Nếu nhà bị hư mà không thể ở:
* Bạn có thể phải chi trả nhiều hơn mức sống bình thường.
* Tìm nơi ở tạm cho gia đình.
* Không nên thuê dài hạn, trước khi mọi chuyện giải quyết.
* Giữ hóa đơn.
Hoặc những lời khuyên dưới đây cũng rất hữu ích
- Trước hết, chăm sóc, băng bó, xử lý vế thương cho mình và người thân vì giữ gìn sức khỏe cũng chính là trấn an tinh thần.
- Lên kế hoạch cho bản thân và gia đình: Tối ngủ ở đâu? Nếu có người thân mà không bị ảnh hường thì cầu xin giúp đỡ. Không có ai thì tìm kiếm nơi tạm trú gần nhất.
Khi rời nhà, nơi trú ẩn cần chú ý đến những cái bẫy như cây bị gãy đổ, cầu gẫy, cẩn thận với những cái giếng, hố bị ngập lụt.
- Sau khi tìm được chỗ ở cho những ngày tiếp theo thì thở sâu để nhận biết tất cả những gì đã xảy ra. Có thể muốn nói chuyện với một người nào khác về cảm xúc và suy nghĩ.
- Hạn chế tiếp xúc giới truyền thông.
- Cố gắng nghỉ ngơi, và uống nước để hồi phục sức khỏe. Chú ý đến nước nhiễm bẩn vì có thể nhiểm khuẩn như bệnh tả.
- Chấp nhận những lời đề nghị giúp đỡ từ người khác.
- Dành thời gian càng nhiều cho người thân, và làm những chuyện mà tất cả muốn làm.
- Liên lạc với gia đình và bạn bè để luôn có nơi sẵn sàng giúp đỡ.
- Cố gắng tránh việc chỉ ăn và ngủ vì nó thể làm mọi chuyện đơn giản trở nên xấu đi.
Những thiệt hại về người và của đó là những tác động trực tiếp. Những con số về thiệt hại về nhân mạng, nhà cửa, đường xá đó những gì dễ nhận biết nhất. Tuy nhiên, ai cũng hiểu là hậu quả không chỉ dừng tại đó.
Những tác động gián tiếp là: Người không may chết, nguồn nhân lực giảm; người bị bệnh tật, bị thương sẽ tăng chi phí về y tế; khu dân cư bị hư hại, dẫn đến chi phí tăng về nhà ở; nhà xưởng, máy móc trang thiết bị, kho bãi bị hư hỏng thì sãn lượng công nghiệp giảm; đường xá, thủy lợi, cầu, đập hư hại thì dẫn đến giảm phân phối, chi phí tăng; ruộng, vườn ao hồ ngập lụt hay hạn hán sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp. Những tác động gián tiếp này làm cung cầu mất cân đối, giá cá sẽ tăng chóng mặt. Điều này dễ hiểu tại sao Hà Nội ngập lụt thì giá rau xanh tăng đột biến.
Nhìn ở góc độ vĩ mô, những ngành chịu thiệt hại bao gồm luôn cả bảo hiểm và ngân hàng. Các công ty bảo hiểm sẽ phải chi trả những khoản tiền lớn để bồi thường, trong khi ngân hàng sẽ phải đối mặt với tình trạng nợ xấu.
Ngoài những tác hại về tài chính, những thảm họa trên cũng ảnh hưởng đến những vấn đề về xã hội như lòng tin của dân chúng, hay những vấn đề về chăm sóc y tế, sức khỏe tinh thần, giáo dục, an ninh xã hội, cũng như về chính sách của nhà nước.
Tôi muốn viết tiếp dưới cái nhìn của nhà đầu tư khi thảm họa xảy ra. Lấy ví dụ, một trận bão kèm lũ quét và ngập lụt. Một vài lĩnh vực sẽ bị ảnh hưởng:
- Trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị: trong một số trường hợp, thảm họa sẽ buộc chính phủ phải chi tiền khắc phục, do đó một số trái phiếu đáo hạn trong thời điểm này sẽ gặp trục trặc.
- Bảo hiểm: các công ty bảo hiểm là những người phải thiệt hại nặng khi có thảm họa. Một biện pháp các công ty bảo hiểm tránh rủi ro là công ty bảo hiểm phát hành catastrophe bonds, một loại trái phiếu có floating rate. Do đó, nếu có ý định đầu tư vào cty bảo hiểm phải coi kỹ thông tin...và xử lý nhanh.
- Nhóm cty bán hàng thực phẩm: nếu từng nghe chuyện dân gian Thạch Sùng trữ gạo để bán sau khi lũ lụt thì có thể hiểu rằng các công ty bán thực phẩm chỉ kiếm lời nhiều khi có dự trữ hàng hóa lớn. Nguồn cung ít thì đẩy giá lên cao. Luật chơi thì công bằng, nhưng đầu vào cũng cao thì không hẳn có lợi nhuận đột biến.
- Xây dựng, vật liệu xây dựng: dễ hiểu là nhu cầu xây dựng, sửa nhà, xưởng, cầu đường sẽ tăng, nhưng chú ý là nhu cầu sẽ bão hòa đến một mốc. Biết được các công ty có nhiều hợp đồng là lợi thế. thời gian. Quan trọng là xác định tốt thời điểm.
- Y tế: Để ý là các hãng dược phẩm lớn trên thế giới kiếm được khá nhiều tiền khi khi có dịch cúm H5N1, một thiên tai như lũ lụt thì sẽ đẩy nhu cầu về một vài loại thuốc. Vậy cần xác định các công ty dược phẩm bán cái gì.
- Các cty có nguốn nguyên liệu từ vùng bị thảm họa: Giá nguyên liệu tăng, nhưng chú ý là chỉ vùng này tăng, vùng khác cũng có thể bám theo mà tăng nhưng nhìn chung thì giá nguyên liệu tăng sẽ tăng chi phí, lãi sụt. Do vậy, hiểu công ty mình đầu tư thì có lợi thế hơn.
- Ngân hàng: default rate là cái họ lo sợ. Vì thề nên nắm được tỉ trọng của vùng bị thảm họa trong cơ cấu của ngân hàng là điều tốt. Mặc dù vậy, thường tỉ trọng các vùng này thấp.
- Bất động sản: tôi nghĩ đầu tư bất động sản cần thời gian, trong thời điểm này thì đó là cơ hội mua vào.
Chỉ là muốn viết một vài ý (và cần phát triển thêm).
Tôi không muốn bị coi là kẻ trục lợi, hám tiền, nên tổng hợp một vài lời khuyên khi gặp một thảm họa.
Những việc cần làm sau thảm họa:
Bảo vệ bản thân và những người khác
* Chờ có thông báo rõ ràng trước khi rời khỏi nhà, nơi trú ẩn
* Kiểm tra những người xung quanh xem có bị thương không. Tự sơ cứu và kêu gọi giúp đỡ nếu cần thiết.
* Cảnh giác với những trụ điện rơi đổ.
* Hạn chế gọi điện tới những số điện thoại khẩn cấp.
* Tránh cầu gãy hoặc xuống cấp.
* Kiểm tra ấm nước, và các thiết bị. Nên kiểm tra bằng đèn pin thay vì diêm hay nến.
Nếu ngửi thấy mùi khí gas thì mở cửa sổ, tắt valve mở. Không bật đèn và các thiết bị cho đến khi khí đã bay, và đã kiềm tra hệt thống điện. Nếu dây điện rò rỉ thì tắt nguốn.
* Dùng nước dự phòng hoặc nước vòi đun sôi cho đến khi được thông báo nguồn nước an toàn.
* Thức ăn mà do nước lụ mang tới có thể nhiếm khuẩn, nên loại bỏ.
* Kiểm tra thực phẩm đông lạnh có bị hư hại. Phân ra thức ăn bị nhiễm bẩn hay bị hư.
* Những hố ga, trụ điện đổ, chỗ ngập lụt thì nguy hiểm. Ngập lụt thì tránh sông suối.
Bảo vệ nhà cửa và tài sản cá nhân:
* Tìm xem thiệt hại, gồm cả hư mái nhà, có thể bị mưa dột. (Không trèo lên mái)
* Nếu nguồn điện bị cắt, rút bỏ tất cả phích căm để tránh phóng điện, điện tăng đột biến gây hư hỏng đồ đạc gồm cả TV, đầu máy, PC...
* Làm những bước hợp lí để tránh hư hại thêm: sửa mái nhà, thay kính, vá lỗ hổng, bịt ống rò rỉ.
* Lau nước bẩn ở sàn và thảm.
* Xem xem cái nào cần rửa, lau chùi, cái nào cần sửa.
* Phơi quần áo, đồ dùng cang sớm càng tốt. Giữ hóa đơn vì chúng có thể được trả bởi bảo hiểm.
* Trước khi vứt bỏ món đồ nào thì xem chúng có được bảo hiểm hay không.
* Lập danh sách những gì cần lau chùi, giặt rửa, thời gian để làm, lập danh sách những món đồ bị hư hại, và các thông tin kèm theo.
Nếu nhà bị hư mà không thể ở:
* Bạn có thể phải chi trả nhiều hơn mức sống bình thường.
* Tìm nơi ở tạm cho gia đình.
* Không nên thuê dài hạn, trước khi mọi chuyện giải quyết.
* Giữ hóa đơn.
Hoặc những lời khuyên dưới đây cũng rất hữu ích
- Trước hết, chăm sóc, băng bó, xử lý vế thương cho mình và người thân vì giữ gìn sức khỏe cũng chính là trấn an tinh thần.
- Lên kế hoạch cho bản thân và gia đình: Tối ngủ ở đâu? Nếu có người thân mà không bị ảnh hường thì cầu xin giúp đỡ. Không có ai thì tìm kiếm nơi tạm trú gần nhất.
Khi rời nhà, nơi trú ẩn cần chú ý đến những cái bẫy như cây bị gãy đổ, cầu gẫy, cẩn thận với những cái giếng, hố bị ngập lụt.
- Sau khi tìm được chỗ ở cho những ngày tiếp theo thì thở sâu để nhận biết tất cả những gì đã xảy ra. Có thể muốn nói chuyện với một người nào khác về cảm xúc và suy nghĩ.
- Hạn chế tiếp xúc giới truyền thông.
- Cố gắng nghỉ ngơi, và uống nước để hồi phục sức khỏe. Chú ý đến nước nhiễm bẩn vì có thể nhiểm khuẩn như bệnh tả.
- Chấp nhận những lời đề nghị giúp đỡ từ người khác.
- Dành thời gian càng nhiều cho người thân, và làm những chuyện mà tất cả muốn làm.
- Liên lạc với gia đình và bạn bè để luôn có nơi sẵn sàng giúp đỡ.
- Cố gắng tránh việc chỉ ăn và ngủ vì nó thể làm mọi chuyện đơn giản trở nên xấu đi.
Đăng ký:
Các Bài đăng (Atom)
Đăng kí RSS
Theo dõi trên Twitter